Thật ra có lẽ ngay từ khâu kịch bản nhà biên kịch trẻ Phan Đăng Di đã tạo ra được một câu chuyện hứa hẹn nhiều bất ngờ trong cấu trúc, tạo cảm giác và đánh đố công chúng tiếp nhận trong kiến tạo nội dung.
Đến đạo diễn Bùi Thạc Chuyên quả thật anh đã có nghề trong việc tạo hiệu ứng để dẫn dắt câu chuyện bằng những mảng ghép, bằng sự cắt lát đan xen trong các mối quan hệ diễn ra trơn tru mà khá phức tạp. Quan hệ giữa Duyên (Hải Yến) và Hải (Duy Khoa) cặp vợ chồng vừa mới cưới lại sớm ngoại tình, giữa Duyên với Thổ (Johnny Trí Nguyễn) một tình cảm xác thịt chớp nhoáng, giữa Duyên với Cầm (Linh Đan) một tình bạn (thấp thoáng bóng dáng đồng tính) chia sẻ, tâm sự lại khó hiểu trong hành động, giữa Cầm với Thổ một chuyện tình dường như đã chấm hết mà chưa dứt, giữa Vi (Linh Dung) với Thổ một tình yêu thèm khát nhục dục mà đơn phương v.v…
Dường như mỗi nhân vật, mỗi gia đình dù mới hay cũ, trong quá khứ hay hiện tại trong phim đều chứa đựng những bi kịch mà họ không ngờ tới hoặc cố tình hay vô tình không nghĩ đến, biết đến.Và xa hơn là cả xã hội như đang hứng chịu những bi kịch trong sự quay cuồng của xe cộ, ngập ngụa của đường phố. Cần phải lựa chọn một con đường, một lối thoát thì tự thân các nhân vật trong phim không tìm kiếm. Lối đi, ngả rẽ nào tác giả lại đặt nó thành những ẩn số để người xem tự giải đáp bằng sự trãi nghiệm của bản thân mỗi người.
Thành công của bộ phim trước tiên là ở chỗ đưa người xem vào một thế giới đời sống tự nhiên, gần gũi, dễ nhận ra. Mỗi nhân vật như là sự hiện diện của chính bản thân với tư cách là những con người bằng xương, bằng thịt; mà cũng có thể là những con người đang quan sát, nhận diện, suy nghiệm về bản thân, về cuộc sống đang diễn ra.Và đương nhiên đứng trước thế giới đời sống ngày càng bộn bề, phức tạp, có người cảm thất bối rối, có người mặc nhiên trước mọi diễn biến. Nhịp đời sống trong bộ phim này có thể đã diễn ra theo hai cách hiểu: một là một nhịp sống ồn ã, quay cuồng; hai là nhịp sống đang diễn ra theo nhịp tự nhiên vốn nó là như thế. Sự tồn tại của mỗi cá thể sống tự chọn (hoặc đã có sự lựa chọn hộ) để bước vào và tồn tại. Có khi là sự lựa chọn khá tự nhiên, hồn nhiên như Hải. Có khi sự lựa chọn đầy sự sắp đặt như Cầm. Hoặc sự lựa chọn đầy thử thách đan xen giữa các giá trị như Duyên. Nhưng nhìn chung lại, dù là sự lựa chọn nào thì tất cả các nhân vật trong phim đều chông chênh.
Một tầng nghĩa khác mà tôi cảm nhận được qua bộ phim đó là những giá trị muôn thuở trong chuyện quan hệ vợ chồng. Duyên - một cô gái ở độ tuổi 25, 27, mới lấy chồng được dăm ba ngày, do một vài lý do khách quan ngoài ý muốn; do chưa có sự điều chỉnh, trưởng thành hơn của Hải với tư cách, ý thức mình là người đã có vợ đã vội ngoại tình xác thịt chóng vánh với Thổ - người đàn ông mà cô cũng chỉ mới gặp lần đầu. Phải chăng đây là sự buông thả xác thịt nhất thời, nông nổi hay là sự đe dọa của đời sống hiện đại với lối sống cổ truyền Á đông. Và rồi tự bản thân Duyên cũng cảm thấy dằn vặt trong mối quan hệ của mình đối với chồng. Không hẳn là sự hối hận về lòng chung thủy, mà ở đây là sự đối lập giữa hai mặt bản thân và gia đình, gia đình và nghĩa vụ.
Nhân vật mà tôi quan tâm và suy nghĩ nhiều qua bộ phim này đó là nhà văn nữ Cầm. Nhân vật này xuất hiện cùng với nhiều chi tiết, cảm xúc, biểu hiện, hành xử khó hiểu. Sống khá câm lặng, khép kín, quanh quẩn trong một căn phòng. Người ta chỉ thấy cô ở bàn viết văn hoặc ở trên bộ ván trùm chăn để xông vì bệnh. Một cô gái bệnh tật từ cơ thể và bệnh tật cả trong hành xử. Lẽ ra, nhà văn với thiên chức của mình, phải hướng con người đến những giá trị đẹp của đời sống hoặc ít ra cũng là người “bào chế thuốc giảm đau” (Trang Thế Hy) cho con người trong đời sống trần thế. Đằng này, cô lại là người quá tinh tường, từng trãi, bệnh hoạn khi sắp đặt sẵn để cho Duyên, bạn của mình rơi vào cạm bẩy của sự sa ngả. Phải chăng nhà văn này muốn Duyên như là vật thí nghiệm, thể nghiệm về con người trong đời sống gia đình, tình dục để có thêm “chất liệu” cho đời sống chính mình và cho những trang viết. Hoặc đây là sự trả thù “ngọt ngào” cho những khát vọng mà bản thân chưa đạt được, hay sẽ không bao giờ đạt được.
Trong thủ pháp biểu hiện, người xem dễ nhận ra hai mảng: sáng - tối, bên ngoài - bên trong, trong nhà - ngoài đường, mưa - nắng… cứ đan cài vào nhau như những mâu thẫn nội tại muôn thuở. Những mảng tường rêu phong lở lói; những ngóc ngách ngoằn nghoèo trong nhà, sự bừa bộn trong những căn phòng là chỉ dấu cho những lộn xộn, mất định hướng.
Ca khúc Dệt tầm gai có gì đó liêu trai, ám ảnh như đang rình rập, giành giật, rất ăn với tiết tấu, nhịp điệu của bộ phim. Được biết ca khúc này do ca sĩ Linh Dung thể hiện đã có trước bộ phim, nhưng khi đưa vào đoạn kết lại rất khớp, tạo cảm xúc, để lại nỗi ám ảnh cho người xem.
Có thể xem đây là lần đầu tiên điện ảnh Việt Nam diễn đạt bằng lối thể hiện thủ pháp của phương Tây, nhưng lại là đời sống phương Đông, hiện thực Việt Nam. Chính cách thể hiện này như là một thủ pháp đồng hiện, giúp ta nhận ra chính ta và khi đi đến tận cùng, ta lại nhận ra nhân loại. Đây là chất người, rất người trong bộ phim này. Trong hướng đi của điện ảnh nói riêng, văn học nghệ thuật nói chung trong thời buổi hội nhập hiện nay nên có những làn sóng mới lạ như thế để “bùng bổ” cho sự phát triển chung. Tuy nhiên, đối với những nhà quản lý văn nghệ, các nhà lý luận phê bình cần bình tâm, cẩn trọng trong chỉ đạo, quản lý, phán xét. Và nên có những kết luận chính thống để nhiều phía không phải “chới với” sau khi xem phim chơi vơi (như nhiều ý kiến của khán giả sau khi xem phim này)
Tôi tin rằng, sau những chuyến đi hoang, sau những cuộc phiêu lưu, tất cả sẽ quay về để gìn giữ những hạnh phúc gần gũi của cuộc sống, của gia đình mà họ đã có được; gìn giữ những giá trị truyền thống Á đông đã được tạo dựng bền vững từ nghìn đời nay.
Nếu viết tiếp câu chuyện, mỗi khán giả sẽ tự viết được đoạn kết cho riêng mình, đó cũng là cái hay của bộ phim. Những nhà sản xuất bộ phim này hoàn toàn có quyền tự hào ghi dòng chữ: “Made in Vietnam” bởi tầm chất lượng nghệ thuật của nó.