Trong cuộc du lịch tự nguyện này không những ta đến được những vùng đất, tìm hiểu được một số địa danh, gặp gỡ được nhiều người mà quan trọng hơn là cùng khám phá, chia sẻ những tâm trạng, số phận khác nhau; cùng “nỗi niềm” với tác giả. Đọc bút ký “Nỗi niềm sông” của Từ Phạm Hồng Hiên ( Nhà xuất bản Văn nghệ năm 2009) bạn đọc chắc chắn sẽ bắt gặp được nhiều điều hơn thế nữa.
Tôi đã được đọc nhiều bài thơ, truyện ngắn của Từ Văn Hà (một bút danh khác của Từ Phạm Hồng Hiên) được in trong các tuyển tập và các báo nhưng theo tôi đó chỉ là những thể loại có tính “sở đoản”. Trong sáng tác của anh đến lúc này “sở trường” thành công hơn có lẽ là những trang bút ký.
Ký với tính chất và đặt trưng là một loại thể văn học mà các nhà nghiên cứu, các giáo trình lí luận văn học đến hôm nay vẫn xếp vào loại đặc biệt và phức tạp do còn nhiều ý kiến khác nhau. Tuy nhiên có thể hiểu “ Từ những thôi thúc của cuộc sống mà tác giả có nhu cầu công bố kịp thời những nhận xét, đánh giá, những ý tưởng… Kí ghi được rất rõ những nét mang dấu ấn của một sự kiện, của một thời kỳ, của một lớp người, của một vùng miền.” thì thuộc phạm vi biểu hiện của ký. ( Lê Minh. Nghệ thuật truyện ngắn và kí. NXB Thanh niên, H ,2000. Tr 250.).
Thôi thúc đầu tiên mà anh hăm hở khai phá là những miền đất, con người gần gũi của vùng đất Bến Tre, Đồng Tháp, Phú Quốc. Đó là những địa danh, con người hào hùng đã hy sinh trong những năm tháng chiến tranh “ Lọt lòng ra ai cũng được cha mẹ đặt cho một cái tên dù đẹp hay xấu, nhưng như là một hệ quả khốc liệt tất yếu của chiến tranh 55 liệt sĩ trên 452 ngôi mộ đang im lìm nằm đó trước mắt chúng tôi đã trở thành những chiến sĩ vô danh. Và phải chăng nghĩa trang Hồ Cỏ chỉ có 5 liệt sĩ ở miền ngoài nằm lại nơi đây nếu căn cứ vào danh sách hay còn bao nhiêu nữa trong số 55 liệt sĩ vô danh kia? Nhất là những liệt sĩ ở những chuyến tàu vận chuyển vũ khí Bắc Nam từ đường Trường Sơn trên biển” (Hồ Cỏ “Nghĩa trang Trường Sơn” ở Bến Tre). Đó là những con người, vùng đất đang hăng say, hăm hở bắt tay vào xây dựng cuộc sống hôm nay: “ Bò! Bất kỳ từ ngả nào đến Ba Tri hình ảnh người ta dễ bắt gặp nhất sau con người chính là con bò…Dẫu không phải là xã mạnh về chăn nuôi nhưng An Hiệp vẫn có đàn bò 530 con. An Thủy 562 con. Đó là chuyện nhỏ. Nhưng những xã nuôi bò nhiều như Phú Lễ, Tân Xuân, An Hóa tây, An Bình Tây, Mỹ Chánh…lên đến ba, bốn ngàn con. Đến xã mới lập như Tân Mỹ cũng có được 1.000 con bò.Những hộ nuôi từ năm, mười con ở đây không phải là ít, như anh Đoàn Văn Dùng, Hà Văn Tuấn, Nguyễn Văn Việt, Nguyễn Văn Thường…Cá biệt như anh Nguyễn Văn Hồng đã lập ra một trang trại hẳn hoi với 0,6ha đất trồng cỏ nuôi đàn bò 18 con. Ba Tri hiện có đàn bò 38.000 con trong tổng số 70.000 con của toàn tỉnh”( Bò Ba Tri đủng đỉnh nên giàu). Tuy vậy hiện thực cuộc sống trong bút ký của anh không hẳn chỉ là những vùng đất, con người, con số lạc quan, tin tưởng phấn khởi; mà còn có cả những con số “tả thực” đầy khắc nghiệt. Những vùng miền với những sự kiện, những con số như biết nói, những tiếng nói đầy tâm trạng trăn trở, thổn thức trước sự tàn phá của thiên nhiên “ Những thông tin buồn lòng đầu tiên được anh Trần Văn Lựu, Trường ban địa chính xã Tân Xuân, cho tôi biết ngay tại trụ sở Ủy ban huyện: Ba chiếc chìm ở Côn Đảo, 4 chiếc mất tích trong số 29 chiếc của xã. Anh buồn buồn cho biết thêm: - Còn 14 người trong số 37 người của 3 chiếc chìm chưa tìm được xác…” (Về quê Đồ Chiểu sau cơn bão). Những tiếng kêu cứu trước những tác động đáng sợ của môi trường “ Hơn 200 hộ ở Chợ Lách bị ảnh hưởng trực tiếp do đất lở trong mùa lũ năm 2.000 thì 25 hộ ở đầu cồn Phú Đa với hơn 4ha đất bị mất trắng là thiệt hại nhiều hơn cả. Tổ 9 và tổ 10 của ấp Phú Đa gần như bị xóa sổ. Không ít hộ đã không còn đất để sản xuất. Và con người đã không còn giữ được sự bình tĩnh. Một nông dân ở Đất Lở (xin được giấu tên) đã liên tục “quấy rối” khi lên xã khiếu nại: “Tại sao lại bỏ tôi?!”(Mai này Phú Đa).Và sự dự báovề câu chuyện của cuộc sống hiện đại hôm nay không lâu nữa (nếu ngay từ bây giờ không có những giải pháp hữu hiệu) sẽ lui dần và trở thành những câu chuyện cổ tích thật nao lòng: “Mai này trở lại Phú Đa có thể tôi sẽ không còn gặp lại được anh.Có thể anh đã trở thành một người bạn đồng hương trôi ngược về đâu đó trên đất nước này, để đêm đêm bên ánh đèn anh kể cho đàn cháu nghe về những bước đường bôn ba của đời anh với lời mở đầu câu chuyện: “Hồi xưa ông ở Đất Lở - Phú Đa”…”.
Với bút pháp khá lưu loát, năng lượng sống dồi dào; Từ Phạm Hồng Hiên đã khai thác được những thế mạnh của mình để nhấn nhá, đan cài vào trong từng bài ký. Ở anh tự thân những tri thức truyền tải như là những phương tiện, thủ pháp biểu hiện để truyền tính sinh động từ trong trang viết vào đời sống. Từ thực tế cuộc sống, từ vốn sống, vốn văn hóa có được anh đã khéo chọn lọc, chắt chiu, hòa quyện để kết tinh thành tác phẩm. Tưởng chừng như những địa danh, vùng đất, con người sẽ mãi mãi thô ráp, khô khan; sẽ vĩnh viễn bị vùi lấp theo thời gian, theo dòng chảy của cuộc sống thì qua bàn tay anh tất cả được “dựng” lên tươi rói, lấp lánh; giàu ý nghĩa, nhiều giá trị cho cuộc đời. Chúng ta hãy cùng bà con nông dân của những địa danh lạ hoắc “trấp Rùng Rình… đến Búng Bà Của, rạch Bắt Bỏ, kinh Ma Meng, Tấp Gùng Ghình” trong bút ký Tháp Mười trắng nước tình sâu để được nghe câu chuyện kể về cuộc “đấu tranh” giữa người và…chuột: “Ờ…dòng cái thứ chuột ở Đồng Tháp Mười này mới ghê chứ. Do bà con mình không có kinh nghiệm mà cũng chưa nghiên cứu kỹ nên không biết tai họa của vụ hè thu. Bà con mình chưa biết quay rào bằng những tấm ny-lông để tránh chuột. Đến khi biết dùng tấm ny-lông để rào lại lòi ra sự hạn chế của mình là đào rãnh để chôn chặt mép ny-lông xuống…Thế có chết hôn? Đâu đó tươm tất rồi lại té ra đêm đêm những “binh đoàn chuột” hàng ngàn con leo lên những ngọn tràm gie vào ruộng rồi từ đó thi nhau “nhảy dù” xuồng tàn hại những bông lúa đang thì con gái!...Giờ nhắc lại muốn mọc ốc…”.
Có thể thấy bút kí của Từ Phạm Hồng Hiên không phải là sự ghi chép cẩn thận, đầy đủ tất cả mọi sự kiện, chi tiết mà nó là những chuyện được kiến tạo bằng tình điệu, giọng văn biến hóa, chắt lọc theo từng sự việc, từng cảnh vật, từng con người, từng số phận. Chúng ta hãy lắng lòng mình lại cùng tác giả qua một đoạn văn tả bằng cảm xúc thật sâu lắng: “Có thể không với tràng hoa, không nén hương nào,chỉ bằng nén tâm hương ghé thăm viếng giây lát rồi đi để từ đây trong cái tịch mịch của không gian rười rượi gió nghĩa trang người ta bắt gặp trong lắng đọng của tâm hồn chút ý nghĩa về sự tồn tại của chính mình giữa cuộc đời đang náo động hôm nay. Nét riêng của nghĩa trang Hồ Cỏ là ở chỗ đó, cái đẹp của nghĩa trang Hồ Cỏ cũng là ở chỗ đó” (Hồ Cỏ “Nghĩa trang Trường Sơn” ở Bến Tre). Không chỉ có vậy , đọc bút ký của anh cũng sẽ rất dễ bị “cuốn theo chiều gió” bởi cảm hứng hồ hởi, dồn giả: “Và này nữa bà con ơi, cầu không chỉ để đi thôi đâu. Nó còn có nhiệm vụ giải phóng nữa chứ, giải phóng nhiều thứ lắm. Hơn ba mươi năm rồi chứ có phải ngắn ngủi gì đâu chẳng lẽ mình cứ “cùng quyết tiến bước” theo bác Huỳnh Minh Siêng hoài hay sao”. (Ngả nón trông cầu”).
Anh nồng nhiệt ngợi ca cũng chính là chuyển nhiệt huyết của chính bản thân mình, của đối tượng được khám phá vào đời sống, vào từng con người để tôn vinh cuộc sống tươi đẹp đang diễn ra; để những thân phận, cảnh ngộ dẫu rất đỗi bình thường hay bất hạnh được chia sẻ. “Nỗi niềm” trong bút ký của anh là nỗi niềm của tình người đậm đà đang lan tỏa xung quanh chúng ta.
Qua tập bút ký này phải khẳng định sự trưởng thành và thành công về mặt bút pháp của Từ Phạm Hồng Hiên. Những bài bút ký được viết gần đây như Ngả nón trông cầu, Lung linh cội nguồn, Hồ Cỏ “Nghĩa trang Trường Sơn” ở Bến Tre, Nỗi niềm sông… đã chứng tỏ một bút pháp lưu loát, vững vàng. Điều này khiến ta liên tưởng đến những họa sỹ kí họa tài hoa. Họ tỉ mẫn từng nét, từng nét một để cuối cùng có một tác phẩm hoàn mỹ.Từ Phạm Hồng Hiên cũng thế, anh tỉ mĩ từng câu, từng chữ một và cuối cùng tròn trịa nên một tập bút ký.
Tôi cũng đặc biệt thích thú và ấn tượng với các nhan đề gợi những hình ảnh đẹp, sống động, giàu chất thơ trong tập ký như Tháp Mười trắng nước tình sâu, Ngả nón trông cầu, Lung linh cội nguồn, Nỗi niềm sông…
Tuy nhiên, khi gấp tập sách lại điều tôi băn khoăn trước hết lại nằm ngoài trang sách, nằm trong giới hạn nội tại của chính tác giả. Đó là đề tài, không gian thể hiện trong các bài ký bị giới hạn chật hẹp quá; sức khái quát nhiều vấn đề được đặt ra trong tác phẩm bị hạn chế. Điều này có thể do những điều kiện khách quan lẫn chủ quan. Nói như chữ của Nguyễn Tuân, do anh ít “xê dịch” chăng?
Một vấn đề khác về mặt thể loại, đó là một số đoạn trong một vài bài không phải là bút ký văn học mà nó ngả sang kí báo chí. Ví dụ như các đoạn: “Từ căng dây kéo cáp phi 5 dài 42m/nhịp, dằm giàn thép khẩu độ 80 mét/nhịp rồi 89 mét/nhịp của Trung Quốc, Pháp đến khung tê (T) đúc hẫng trên đà giáo, nhịp dầm neo của Trung Quốc, rồi lại đến khung T đúc hẫng nhịp 102 mét của Nhật và bây giờ là thép dây giăng , dầm supper T với công nghệ quốc tế hiện đại nhất” (Ngả nón trông cầu), hay“ Sở Nông nghiệp đã triển khai dự án nâng chất lượng đàn bò thịt với 68 con, nhằm mục đích đưa tỉ lệ thịt lên 55-60% so với 40 – 50% như hiện nay. Trung tâm giống gia súc gia cầm tỉnh với dự án gieo tinh nhân tạo cho bò, heo cũng đã mở lớp huấn luyện chuyên viên thú y tại chỗ từ tháng 6/2003 cho 26 người. Đến nay đã gieo được 537 liều tinh, và cho ra đời 36 bò con, số còn lại đang mang, đạt tỉ lệ 50%.” (Bò Ba Tri đủng đỉnh nên giàu) …Rõ ràng ngôn từ ở các đoạn trên thiên về thông tin, thông báo; chú ý nhiều đến sự chính xác, cụ thể của tin tức và mang tính thời sự cao (một trong những tiêu chí hàng đầu của kí báo chí). Nếu kí báo chí thiên về thông tin thời sự xác thực thì ký văn học từ sự thật đời sống phải được chưng cất bằng ngôn từ giàu hình ảnh, giàu cảm xúc để xây dựng nên những hình tượng nghệ thuật vừa mang dấu ấn đời sống, vừa thể hiện được những giá trị thẩm mĩ nhất định.
Có một chữ nữa mà Nguyễn Tuân thích dùng đối với người viết đó là chữ “ba hoa”. Hẳn nhiên là người viết chuyện phải biết ba hoa, nhưng ba hoa không phải là khoe kiến thức đông tây kim cổ, cũng không phải dây cà, rau muống mà phải biết “tiêm” đúng liều lượng; ba hoa có nghệ thuật, có sức hấp dẫn. Trong các bài ký của Hồng Hiên rãi rác có vẻ như anh hơi “tham” dẫn dắt người đọc đi rong ruổi, dông dài. Cách này giống như những người câu cá ở trong ao vũng cứ rê rê, nhấp nhấp từ giề lục bình này đến đám rau muống nọ những mong sẽ tóm được chú cá to nhưng có khi vô vọng, hoài phí thời gian.
Ký là thế mạnh của nhiều tác giả văn xuôi đồng bằng, trong đó Từ Phạm Hồng Hiên là một điểm nhấn cần được rung lên nhiều hơn, âm vang hơn trong tương lai. Là tác giả đang có phong độ ổn định trong sáng tác tôi tin trên con đường văn nghiệp của mình hứa hẹn anh còn nhiều ẩn số đối với bạn đọc. Hy vọng và tin tưởng với bản chất của văn học nghệ thuật là đem lại những giá trị cao quí cho cuộc đời, anh sẽ còn có những sáng tạo khẳng định dấu ấn cá nhân mang tên Từ Phạm Hồng Hiên. Đọc 9 bài bút ký trong Nỗi niềm sông tôi chợt liên tưởng đến 9 nhánh của dòng sông Cửu Long được hợp thành từ rất nhiều kênh rạch lớn nhỏ khác.Với bề dày và sự phong phú của tự nhiên, lịch sử, văn hóa, con người 9 nhánh sông ấy có lúc lặng thầm, có khi hăm hở cuồn cuộn chảy. Vấn đề là ở chỗ văn học nghệ thuật biết khai phá đúng mức, tự nhiên, hấp dẫn và sao cho…hay lên.