Mùa đông vừa qua, Sài Gòn có những ngày rét thật thú vị. Trong cái rét khá ngọt ngào giáp Tết làm nôn nao lòng người ấy, nhà thơ Triệu Từ Truyền cho trình làng tập thơ “Lục bát Triệu Từ Truyền” (NXB Hội Nhà Văn ). Đây là tập thơ thứ tám kể từ "Đêm Lên Cơn Dài" (1965); "Bên Dòng Măng Thít" (1986); "Dật Dờ Trong Sương" (1990); "Mảnh Vỡ Hồn Nhiên" (1994); "Va Chạm Hư Không" (1999); "Tuyển thơ" (song ngữ Việt Pháp-2001); "Mặt Cắt Cõi Ngoài" (2006).
Suốt 43 năm, một nửa đời người, Triệu Từ Truyền đã chọn cho mình một chỗ đứng trên đất Thơ, một chỗ ngồi trên chiếu Thơ với một tấm lòng sống chết cùng Thơ. Từ buổi đầu “khởi ngiệp” với “Đêm Lên Cơn Dài”, giới yêu thơ Sài Gòn bấy giờ đã bất ngờ đón nhận những dòng lục bát chẳng lẫn vào ai của một nhà thơ trẻ mới vừa 16, 17 tuổi, mang tên Triệu Cung Tinh. 15 tuổi anh đã viết: "thôi em nước mắt khoan về/ ngày qua còn đó bóng hè chưa sâu. (Tình Phượng 15). Có lẽ tên anh, cái tên hàm ý những vì sao, như một tiền định, nên thơ anh vừa lấp lánh mà cũng vừa xa xôi bí ẩn u hoài. Chạm vào những dòng lục bát của Truyền, người đọc như bị chạm vào nhiều nỗi ưu tư. Thơ anh mở ra thế giới tâm hồn lung linh đến kỳ lạ:
"anh nằm dưới gốc cây thơ
rễ thơ nuốt nghẹn dại khờ tươi nguyên
bươi tìm trái chín hốn nhiên
rơi từ đáy mắt những huyền thoại xa
(thơ-trang 09)
Và điều bất ngờ, sau 44 năm thơ anh vẫn tươi rói, nhà thơ họ Triệu ở tuổi 62 vẫn đắm say với “mùi” lục bát. Suốt mấy thập kỷ qua, anh vừa làm thơ lục bát bên cạnh thơ tự do và thơ văn xuôi, theo tôi, qua lục bát ta nghe được nhịp tim cùng hơi thở Triệu Cung Tinh - Triệu Từ Truyền rung lên theo từng cung bậc của thơ:
"tôi qua giọt nước muôn trùng
rơi từ đáy mắt bảo bùng biển xanh
mưa xây thành phố mong manh
vỡ trong tôi mục cây cành lá tươi
héo hon tay nhốt bóng người
hai dòng nước nhỏ vượt xuôi qua đời
một khuôn mặt ướt lạnh trời
bước đi run rẩy tiễn tôi về buồn".
(mưa- 1964-trang 13)
Đi qua một giọt nước, đi qua khuôn mặt ướt, đi qua bóng lữ khách ướt để về đâu? Về một nẻo phố mưa, về lối đi cô quanh và anh sẽ về lại với chính nỗi buồn, thế giới riêng hư thực của đời anh.
Mỗi lần đọc một bài lục bát của Triệu Từ Truyền tôi lại nghe trái tim mình chùng xuống như bất chợt nghe một cung “Mi” buồn rơi xuống hoang vu:
"với đồng bằng với dòng sông
mẹ sinh anh giữa mênh mông nỗi buồn
hiểu sông phải ngược lên nguồn
mình cùng chèo chống ai buông được sào…
(nói với em-1982-trang 31)
Truyền nói chuyện dòng sông, chuyện cánh đồng không phải chỉ để nói cái bao la, bát ngát của dòng sông cánh đồng nào đó, mà anh muốn nói về nổi đau của một kiếp người trên dòng đời vốn nhiều hệ lụy. Thân phận mỗi con người như mỗi con thuyền trên dòng đời xuôi chảy, dù có đi bên cạnh ai chăng nữa thì ta vẫn một mình trong cõi người ta bao la.
Thỉnh thoảng gặp ở quán 81(1), anh chỉ gọi một chai nước ngọt hoặc nước suối, không uống bia nhưng anh vẫn nhìn anh em nâng cốc một cách hài lòng như chính mình đang uống. Tuy có vẻ mệt mỏi với gánh nặng của thời gian và những riêng tư nơi cuộc sống, song Truyền sẽ chuyển động sôi nổi ngay khi có ai đó nói về thơ.
Hình như với Triệu Từ Truyền chỉ có thơ mới là thứ “sinh tố”, một loại dược liệu nuôi sống anh như chất nhựa từ trong đất nuôi sống cây, cho cây ra hoa kết trái:
"anh nằm trong trái nhớ hoa
hoa khoe nhụy thắm nhạt hòa nắng hanh
phấn tình đắng –chát-ngọt- thanh
giật mình thụ trái anh đành liều thân
(thơ-trang 09)
Đang ở Paksé—Nam Lào tháng 10/2008 được tin nhà thơ Thảo Phương(2) đột ngột qua đời ở Sài Gòn, Triệu từ Truyền đã viết:
"lấp thơ đầy hố đêm dài
xuôi dòng cô độc trộn ngày vào mơ
đầu đông bến lạnh ngây thơ
cuối đông nước đỏ gặp bờ biển xanh
đem thân cỏ biếc đầu gành
bước về cuồi bãi cũng đành một phương…
(mỗi mình xanh tươi-2008-trang 68)
Rồi tháng 12/2008 anh lại ngậm ngùi khóc một người bạn tri kỷ, nhà văn- nhà báo Nguyễn Tri Chính (3) ra đi…
"hẹn nhau đi hết chân trời
chưa qua góc biển sao người rời xa
cơn mưa trước cổng Văn Khoa
sợi trời buộc núi sông ta với người
văn chương chưa biết nụ cười
đường đi ngỡ một- hóa mười nẻo hoang".
(thinh lặng ra đi-2008-trang71)
Bài thơ lục bát cuối của tập thơ có tựa: xin lỗi con
"cho ba xin lỗi sơ sinh
vì chưa kịp hỏi tạo hình hài không
khát khao tiếp nối giống giòng
đẩy con ra giữa mênh mông lạ kỳ"
……
Người đời ai sinh con cũng đều vui mừng, người cha trong bài thơ này vừa mừng vừa cảm thấy hình như mình có lỗi , bởi vì anh chưa hỏi con mình có chấp nhận xuất hiện ở không gian ba chiều này không? Những nhà thơ từ xưa đến nay, chỉ xin lỗi con vì những thiếu xót trong trách nhiệm làm cha như bê tha, không kiếm đủ nuôi con…. Nhà thơ Đoàn Vỵ Thượng viết rất sòng phẳng:.. “Là người luôn có nhiều tìm tòi, khai phá trong thơ, mặc dù nhiều năm nay được văn giới và bạn đọc chú ý như một tác giả của những bài thơ “lạ hóa” trong thủ pháp, ngổn ngang những suy niệm, nhưng Triệu Từ Truyền cũng không rời bỏ thể loại thơ lục bát cổ truyền, và ông muốn minh chứng rằng lục bát vẫn có thể mới và đa tầng, nếu người viết có một tâm hồn nhạy cảm; thích suy tư, và tất nhiên, tài hoa. Xin lỗi con là một ví dụ…
Hiếm có trong cuộc đời, và cả trong tài sản tư tưởng, triết lý của nhân loại xuất hiện ý tưởng một người cha xin lỗi đứa con vì sự ra đời của nó. Bài thơ nói về nỗi lo không bảo vệ, chia sẽ những bất toàn mà đứa trẻ phải gánh chịu khi sống giữa thế gian, cho thấy một tâm hồn u uẩn, bao dung, mặt khác lại phản ánh được phần nào những khổ nạn chung của thời đại. Cho hay lục bát không chỉ là tình tự êm đềm của cá nhân hay dân tộc, nó cũng có thể có sức mạnh bộc phá trong chính những vần điệu nhịp nhàng. Nó là mặc như lôi, sự êm- đềm- sấm- sét.” (trích giới thiệu Lục bát Triệu Từ Truyền/ Tạp chí Tài Hoa Trẻ).
"…con từ thế giới ẩn tàng
gọi ra mặt đất hoang mang làm người
ba xin lỗi chuyện khóc cười
chuyện ăn chuyện ở chuyện lười nhác kia
đớn đau sống chết chia lìa
hạt nhân đầu đạn đầm đìa hành tinh"
(xin lỗi con-2008-trang 72)
Ở tuổi đáo tuế, trái tim con người thường đã chùng xuống, mọi sự việc của cõi đời đều nhẹ như mây nổi, còn với Triệu Từ truyền hồn thơ trong anh càng chất ngất hú gào như bão tố. Lục bát Triệu Từ Truyền vẫn không cũ, nó mang đến người đọc những giây phút tìm lại chính mình…Thơ Triệu từ Truyền không phải là loại thơ “ tầm chương trích cú” mà nó luôn đổi mới như một nhà văn đã viết: “ Thơ Truyền có tiến trình, không là hành hương quanh co về chốn cũ dù đó là đền đài miếu tự của thơ”( Cung Tích Biền).
Gia Định, tháng 4/2009