Có một người cất tiếng khóc chào đời vào giữa một ngày cuối xuân Mậu Ngọ (1918) và cũng từ biệt cuộc đời vào một ngày cuối xuân năm Ất Tỵ (1966) – đó là Nguyễn Bính. Thi nhân lặng lẽ sống, lặng lẽ ra đi, lặng lẽ hiến dâng cho đời một mùa xuân nguyên vẹn.
"Năm mới tháng giêng mồng một tết
Còn nguyên vẹn cả một mùa xuân"
Như một duyên nợ với mùa xuân, Nguyễn Bính đã vắt kiệt lòng mình để dệt nên những thi phẩm ăm ắp sắc xuân, tình xuân với một giọng thơ thuần khiết “chân quê” làm say lòng độc giả. Như một điềm báo trong “mưa xuân” khi thi nhân nhìn thấy “bữa ấy mưa xuân phơi phới bay” gợi không khí xôn xao, rạo rực và ngay sau đó tứ thơ khép lại mùa xuân với hình ảnh buồn thương, tiếc nuối “ bữa ấy mưa xuân đã ngại bay”, “mùa xuân đã cạn ngày”. Con người rất đỗi yêu đời, yêu mùa xuân ấy ra đi ngay giữa mùa xuân để mỗi độ xuân về, Tết đến lại trào dâng trong lòng những người yêu thơ niềm thổn thức thương nhớ, khôn nguôi Nguyễn Bính – “thi sĩ của đồng quê”.
Đến với thơ Nguyễn Bính ta bắt gặp cả một giai điệu xuân: “mưa xuân”, “xuân về”, “xuân tha hương”, “rượu xuân”, “nhạc xuân”, thơ xuân”, “mùa xuân xanh”. Khi mùa xuân chạm ngõ đất trời cũng là lúc thi hứng xuân lại bay vào thơ Nguyển Bính. Đó là bầu trời trong vắt, ấm áp “mưa tạnh trời quang nắng mới hoe”, là lộc biếc nõn nà, măng tơ, óng chuốt “lá nõn nhành non ai tráng bạc”; là cái mơn mởn biếc rờn của “lúa thời con gái mượt như nhung”, là làn gió nhẹ nhàng thơm tho đưa hương “ngào ngạt hương bay bướm vẽ vòng”, là không gian ngút ngàn nhựa sống, rực rỡ sắc màu “xanh biếc đầu xuân nương mạ sớm…Giậu tầm xuân nở bướm vàng hoe”. Thiên nhiên có dịp phô hết vẻ tươi đẹp nồng nàn khiến thi nhân phải thốt lên ngỡ ngàng “xuân sang xao xuyến lòng tôi quá”.
Mùa xuân tiếp tục lan tỏa vào các hoạt động lễ lội đầu năm. Đây là thời khắc nông nhàn nên người dân tranh thủ du xuân, tổ chức hội hè, đình đám, gặp gỡ giao lưu. Đây là nét đẹp truyền thống của thôn quê góp phần tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Có thể nói trong bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông thì mùa xuân tập trung nhiều lễ hội nhất. Đó là hội chùa Hương, hội Phủ Giầy, hội Chèo, hội Đình làng, hội Gióng, hội Dâu… mỗi lứa tuổi đến với hội hè theo cách riêng của mình. Các cô gái thì “yếm đỏ, khăn thâm trẩy hội chùa”, người già thì “ tay lần tràng hạt miệng nam mô”. Không khí sang xuân thật thanh bình, nhộn nhịp:
"Vào đám làng tôi mở hội chèo
Cờ bay lộng gió đỏ đuôi nheo"
Tiếng trống chèo cất lên giữa mùa xuân cũng là lúc con người thoát ra khỏi bao lo toan, vất vả đời thường để sống thật hồn nhiên, thật cởi mở, thật với chính mình. Cô gái trong “mưa xuân” không dấu được xúc động:
"Lòng thấy giăng tơ một mối tình
Em ngừng thoi lại giữa môi xinh
Hình như hai má em bừng đỏ
Có lẽ là em nghĩ đến anh?"
(Mưa xuân)
“Đôi má bừng đỏ” là dấu hiệu phản quang chính xác của mùa xuân:
"Đã thấy xuân về với gió đông
Với trên màu má gái chưa chồng
Bên hiên hàng xóm cô hàng xóm
Ngước mắt nhìn giời đôi mắt trong"
(Xuân về)
Tín hiệu mùa xuân không hoa đào, chim én mà từ “màu má gái chưa chồng”. Thật độc đáo. Vần thơ như một đoạn phim vừa diễn tả sức sống mới mẻ, trẻ trung vừa đặc tả đôi mắt trong sáng ngây thơ của cô gái làm tăng thêm vẻ đẹp trong ngần, quyến rũ của mùa xuân. Xuân của đất trời và xuân của lòng người hòa quyện thật tuyệt vời.
Mùa xuân không chỉ làm thay đổi bộ mặt của làng quê mà còn gợi không khí yêu đương. Phải chăng vì thề mà mùa xuân đồng nghĩa với tuổi trẻ, mùa xuân là mùa của tình yêu. Xuân Diệu đã hơn một lần diễn tả nỗi niềm này:
"Xuân của đất trời nay mới đến
Lòng tôi xuân đã đến lâu rồi"
(Nguyên đán)
"Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi".
(Vội vàng)
Không mạnh mẽ vồ vập như “ông hoàng tình yêu”, Nguyễn Bính có cái gì đó rất sâu lắng, dịu dàng, thiết tha. Thi sĩ chỉ ao ước xuân về để được kết duyên với người con gái thôn quê thủa thiếu thời:
"Vườn xuân trắng xóa hoa cam rụng
Tôi với em Nhi kết vợ chồng"
(Rượu và hoa)
Chuyện tình ngày xuân nơi thôn dã trong thơ Nguyễn Bính không gắn với “khúc nhạc hường”, “khúc nhạc xuân”. “rượu nơi mắt”, “gấm trong lòng”, “hoa kỹ nữ” mà gắn với “bến đò”, “vườn chè”, “vườn cam”, “giàn hoa lý”, “giậu mồng tơi”, “bên khung cửi”, “đêm hát chèo”… Trai gái làm quen nhau, cảm mến nhau, người này thấy ở người kia nét đẹp trẻ trung, duyên dáng, tâm hồn trong sáng rồi ao ước dệt mộng chung đôi:
"Võng anh đi trước, võng nàng theo sau
Cả hai chiếc võng cùng sang một đò"
(Giấc mơ anh lái đò)
Nguyễn Bính khao khát hạnh phúc nhưng giấc mơ hạnh phúc không đến với thi nhân:
"Em đi dệt mộng cùng người
Lẻ loi xuân một phương trời riêng anh"
(Xuân thương nhớ)
Nỗi đau đó đã đưa nhà thơ đến với thế giới mùa xuân hay nói cách khác muà xuân là cái cớ để Nguyễn Bính làm thơ nói về nỗi nhớ cảnh nhớ người, nhớ quá khứ ngọt ngào và cay đắng.
"Ở đây ăn Tến buồn chưa!
…….
Xứ mình lắm bướm nhiều hoa
Bà Tơ lá lộc tay ngà vin xanh
Mưa nhè nhẹ nắng thanh bình
Nên thơ, ôi, cả xứ mình nên thơ"
(Xuân tha hương)
Thơ Nguyễn Bính tràn ngập một cách nói: “xuân nhỡ nhàng”, “xuân đã cạn”, “tiếc xuân qua”, “xuân tha hương”, “xuân vẫn tha hương”, “xuân lại tha hương” ẩn chứa trong đó niềm đau đáu của thi nhân “kinh kỳ bụi quá xuân không đến” để rồi vỡ òa nỗi xúc động vì sung sướng, vì khổ đau:
"Huyền Trân ơi!
Mùa xuân, mùa xuân, mùa xuân rồi
Giờ đây chín vạn bông trời nở
Riêng có tình ta khép lại thôi"
(Nhạc xuân)
Trái tim thi sĩ đã lỡ nhịp, mộng vàng đã tan:
"Năm tao, bảy tuyết anh hò hẹn
Để cả mùa xuân cũng nhỡ nhàng"
(Mưa xuân)
Mùa xuân trở thành thước đo của sự đợi chờ, ly biệt, vô vọng.
"Nhưng rồi người khách tình xuân ấy
Đi biệt không về với bến xuân
Đã mấy mùa xuân trôi chảy mãi
Mấy lần cô gái mỏi mòn trông"
(Cô lái đò)
Mùa xuân của đất trời thì còn mãi, mùa xuân của đời người “một đi không trở lại” đó là một nghịch lý xót xa. Niềm vui thường đi liền với nỗi buồn, hạnh phúc thường đi liền với bất hạnh, sự nồng nàn đi liền với cảm giác cô đơn. Đó là cái khắt khe, nghiệt ngã của tạo hóa để làm nên nỗi đau ngọt ngào…
Gần nửa thế kỷ trôi qua, Nguyễn Bính đã trở thành người thiên cổ nhưng đọc những vần thơ xuân dìu dịu, bâng khuâng, man mác “hương đồng gió nội” của ông, ta như bắt gặp ở đó những điều mãi mãi chưa nói hết và không bao giờ nói hết.