Rồi thời gian qua đi, ba mươi năm sau nhìn lại, không biết trong số ấy, ai là người còn được nhắc đến tên?! Thế nhưng, giữa lúc này, có nhưng bài thơ, có những tập thơ của một số tác giả trẻ đã để lại trong lòng người đọc nhiều dư âm lay động đẹp đẽ. Trong những cây bút trẻ ấy, đối với tôi, có Trần Xuân An.
Trần Xuân An làm thơ đăng báo khi còn ở tuổi học sinh phổ thông. Thời sinh viên ở Huế, sau 1975, thơ An bắt đầu được giới sinh viên chú ý. Cái thời thơ anh nói hộ cho sự trăn trở của lớp người tuổi trẻ ở miền Nam:
sinh ra, lớn lên ở thành phố Miền Nam
nhà tôi chưa có ai đi làm cách mạng
tôi dầm mình trong quên lãng
buổi cờ bay mới biết có nhân dân.
Cái chân thật, đáng thương và cảm động trong sự trở mình ấy có khác chi lớp nhà thơ đàn anh đến với Cách mạng tháng Tám 1945?!
Năm 1976, An được giải thưởng thơ báo Văn nghệ Giải phóng (một trong mười bài thơ hay nhất trong năm 1975). Từ đó đến nay, thơ An thường xuất hiện trên các báo văn nghệ trong nước. Đặc biệt gần đây, anh đã liên tiếp cho ra đời 3 tập thơ: “Nắng và mưa”, 1991, Hội Văn nghệ Quảng Trị xuất bản; “Hát chiêu hồn mình”, 1992, Nhà xuất bản Đồng Nai; và “Tôi vẫn ở trên đường”, 1993, Nhà xuất bản Văn nghệ Thành phố Hồ Chí Minh. Ba tập thơ là một tiếng lòng, một hồn thơ thực sự và đáng mến.
Nét chính của thơ Trần Xuân An nằm trong mạch cảm xúc tâm linh, với những hồi tưởng day dứt, chiêm nghiệm, tìm tòi, có khi như hoang tưởng mà rất thật. Cái thật trong cảm xúc, hoài niệm, tưởng ảo giác mong manh nhưng rất trong sáng của quy luật tình cảm:
vọng về năm tháng xa vời
rưng rưng mắt nhớ môi cười xa xôi
Có lúc anh nghe “tiếng gió” mà bàng hoàng giữa cái hữu hạn cuộc đời và cái vô hạn thời gian:
đôi khi hồn bỏ thân tôi
ra đồng xuống phố lên đồi vào mây
hiện về trang giấy run tay
gió trời vạn tuổi cuốn bay, sương mờ.
Cảm nhận ấy luôn ám ảnh trong anh. Nhìn cái bàn vắt sổ cũng chạnh lòng thảng thốt: “Tháng năm như tơ chỉ nhỏ/ Ba trục thời gian/ Vơi đến bàng hoàng”… Khái niệm thời gian và cuộc đời đã có từ khi con người biết ý thức về sự hiện hữu của mình, nhưng ở đây, có yêu cuộc đời này lắm, người ta mới thốt lên tiếng lòng như vậy.
Thơ Trần Xuân An đậm tình đối với quê hương, với mẹ, với vợ con, bạn bè và vẫn tâm cảm lắng sâu với cội nguồn dân tộc, với cái đẹp của cõi đời.
Viết về quê hương, tôi cho bài “Đọc ẩn dụ bên dòng Thạch Hãn” trong tập “Hát chiêu hồn mình” có chiều sâu và gợi cảm nhất: “Cúi nhìn mình trong vại giấm in soi cả bóng đất trời/ thương sự sống bụi tro -- thấu suốt cõi người/ Kẻ sĩ ngày xưa ơi…”, để rồi kết lại: “cho tanh xót hoá mỡ màu/ cay cực lại bùi thơm/ bình tâm mỉm cười hồn hậu tự nghìn năm”. Đáng quý làm sao một tâm hồn cảm thông và tin yêu quê hương như vậy.
Quê hương và mẹ trong thơ An đôi khi đan quyện vào nhau, lay động bất cứ lúc nào, tưởng như bàng bạc khắp nơi:
bỗng dưng không biết từ đâu
bay ngang trời đất một màu tóc sương
con úp mặt nhớ quê hương
thương sao quán mẹ bên đường mưa bay.
Viết thư trao đổi với bạn bè, An luôn luôn tuyên bố tôn thờ chủ nghĩa vô thần; còn trong thơ, An bao giờ cũng luôn nâng niu, trân trọng những giá trị tinh thần của dân tộc. Không như một vài ai đó hay xúc xiểm đến danh nhân và đồng nghiệp, An nhân hậu, luôn ngưỡng vọng về quá khứ với tấm lòng thành kính tri ân trong tư cách phân tích để cảm nhận, từ Lão Tử, Thích Ca đến Maria, từ Khuất Nguyên, Lỗ Tấn đến Van Gogh, từ cô Tấm, anh Bờm, Thị Kính, Trương Chi, Xuý Vân… trong văn học dân gian Việt Nam đến Mãn Giác, Trần Hưng Đạo, Nguyễn Trãi, Chu Văn An, Nguyễn Du, Đồ Chiểu, Tú Xương, v.v… Anh suy ngẫm về họ với một tình cảm trân trọng và sâu lắng. Ở mạch thơ cảm xúc về dân tộc, tôi cho bài thơ “Cảm nhận bên dòng sông” trong tập “Nắng và mưa” và bài “Mặc niệm” trong tập “Tôi vẫn ở trên đường” là hai bài thơ có sức lắng đọng lớn. Viết về con người trong văn học quá khứ, có thể anh bộc lộ cảm xúc với tác giả, hoặc về một hình tượng thơ nào đó của tác giả. Ví như anh nghĩ về Mãn Giác thiền sư:
xuân tàn, thân bệnh… Vô thường!
cành mai sức sống sáng bừng sân đêm
mọc từ khổ sợ lo phiền
đoá sen thanh tịnh nở trên lửa hừng.
Hướng nhân tâm của anh luôn đặt trên nền tảng cái đẹp và niềm tin vào sức sống mạnh mẽ của truyền thống văn hoá, nên triết lí nhân sinh từ cành mai kia của Mãn Giác thường hoá thân vào thơ anh: “Hoa quỳ vàng! Hoa quỳ vàng!/ Nghìn mặt trời chói chang trong đêm”. Anh nhận ra cái đẹp trong quy luật vận động tích cực đó không bao giờ bị lu mờ, lụi tắt ở nơi bóng tối.
Trần Xuân An còn trẻ, nhưng có giọng thơ trầm lắng. Thơ An không lên gân, không “cao đạo”, không bí ẩn, nhưng không dễ dãi. Đặc biệt, An có giọng thơ thỏ thẻ, tâm tình, êm nhẹ và mới lạ. Mới lạ ở cách nói, cách nhìn và cách nghĩ. Điều đó ở nội dung hàm ẩn qua tư duy hình tượng và sức gợi cảm mạnh mẽ qua ngôn ngữ biểu đạt:
trăng! trăng! trăng! trăng não nùng
hồn ai ớn lạnh sặc từng ngụm trăng.
Người ta thường nói uống trăng, tắm trăng, giỡn trăng, thế mà ở đây lại nghĩ ra được cái từ “sặc” – “sặc từng ngụm trăng” . Lạ thật! An cảm về thơ Hàn Mặc Tử đấy. Hoặc đồng cảm với một Chế Lan Viên trước Cách mạng tháng Tám 1945:… “niềm mất nước hoá giấc mơ kinh hoàng/ Thơ ai trên gạch tháp Chàm/ Mười bảy tuổi, vội điêu tàn tóc xanh”.
An có giọng thơ êm nhẹ, như vỗ về, an ủi, nhưng không phải chỉ có thế. Trong cái vỏ êm nhẹ, vỗ về đó có sự bứt phá, nhiều khi quay quắt truy tìm cái đẹp trong mọi nẻo mạch đời. Khi thì anh tìm kiếm ở chính mình: “Trong tôi có một miền quê/ Đôi khi buồn quá tôi về trong tôi”. Nhưng anh không khép mình trong vỏ ốc, mà “về trong tôi” để đến với cõi tâm linh sâu thẳm hơn. Có khi anh quay mặt vào quá khứ để “mặc niệm”:
bao ngôi đình quá thân thương
nơi tôi tìm đến dọc đường xa quê
trái tim gọi thức cơn mê…
hồn thiêng đất nước lắng nghe chút lòng…
Mặc niệm quá khứ dân tộc không có nghĩa quay về nỉ non cùng quá khứ, mà chiêm nghiệm nó, bởi anh nhận thức rất rõ:
không có gì tan mất đâu
thấy trong gỗ mục nguyên màu chồi tươi
bàn tay in dấu vào Đời
cho nghìn xưa sống với người nghìn sau
Tôi cho rằng, muốn biết được vốn văn hoá của người cầm bút ở độ nào thì xem anh ta đã suy nghĩ và tiếp nhận văn hoá dân tộc nói riêng và văn hoá nhân loại nói chung ở mức độ nào, nhưng trước tiên là ở cội nguồn văn hoá dân tộc với sự cảm nhận về quy luật vận động của cuộc sống hiện tại. Đọc thơ An, thấy anh thường chiêm nghiệm, suy ngẫm không ít về dân tộc. Đó cũng chính là cái nôi nuôi dưỡng cho hồn thơ anh. Nếu ai đi khỏi cái nôi ấy sẽ mất thăng bằng và khó đứng vững.
Đọc 3 tập thơ với 136 bài thơ của Trần Xuân An, tôi bắt gặp những mảng đề tài phong phú, đa dạng, nhưng đề tài về quê hương, dân tộc như được xuyên suốt và nổi rõ, đã để lại trong lòng người đọc ấn tượng sâu đậm. Tôi thích và quý thơ An, trước tiên cũng chính từ cái hồn thơ ấy. Và cũng đồng cảm với anh về quan niệm này:
và người thơ -- ngọn thu lôi
nhận bao sấm sét giữa trời thương đau
dẫn truyền xuống tận đất sâu
mạch đời hoá giải biết bao nỗi đời.
Phan Thiết, tháng 6.1994