CUỘC THI TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LẦN THỨ IV
HỘI LIÊN HIỆP VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH AN GIANG ĐĂNG CAI NĂM 2011

CÁC TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO
Cập nhật ngẫu nhiên không theo số điểm

ĐẤT VÀ TRÀM

+ THẢO BÍCH

Tiếng máy rì rầm của chiếc sà lan ngoài sông cái văng vẳng theo tiếng vỗ ì oạp sóng nhẹ vào thành ghe làm chao nghiêng mâm cơm chiều của hai cha con trên nóc chiếc ghe hàng [1].

Hình như đã mấy năm nay, thời gian nhẹ trôi như mây trời, hai cha con Nam và bé Tâm vẫn sống thản nhiên đời thương - hồ trôi nổi trên sông nước. Anh chợt nhìn Ịên nóc ghe, nơi có cái bàn thờ người vợ quá cố được làm bằng mấy miếng ván tạp tự tạo, anh trầm ngâm buông chén cơm rồi không nén được tiếng thở dài.

Nếu quả thật là mỗi con người đều có một mệnh đời thì cái số phần của Nam thật quá lênh đênh nghiệt ngã. Anh sinh ra và lớn lên giữa rừng Tràm Tháp Mười bạt ngàn lộng gió nhằm vào cuộc chiến chống Mỹ ác liệt với những cơn bão lửa triền miên mà nơi ấy, những người nông dân chân đất đã nhất tề vùng dậy và có người đã mãi mãi nằm lại trên chiến trường, trong đó có cha anh.

Không những vậy, cái thời tiết khắc nghiệt của Đồng Tháp Mười vốn tính khí thất thường với nắng cháy đồng khô, với lũ lụt vô tình, hình như, không nơi đâu mà con người lại phải chiến đấu triền miên và nhẫn nại với nghịch cảnh như vùng đất khô cằn nắng hạn, mưa lũ ngập ún lá rừng nầy.

Trong cuộc sống muôn vàn hiểm nguy ấy, dù chưa hề được đến trường bao giờ, Nam vẫn học được nhiều điều từ cái truyền thống bất khuất, ngoan cường của người Đồng Tháp mà hằng trăm năm trước cha ông anh đã từng lưu lại của cái thời “Vung gươm đi mở cõi”.

Người Đồng Tháp Mười chiến đấu chống giặc cũng như ngày ngày phải chống chọi lại cái ác liệt của thiên nhiên, chiến đấu chống kẻ thù xâm lược, Nam nghĩ, nó cũng giống như khi giăng cái bẫy để bắt con rắn, con trăn hay học cách xù lông để tự bảo vệ mình của con chuột, con sóc trước hiểm nguy. Anh còn nhớ bài học sinh tồn đầu đời của mình khi mới lên mười tuổi, chiều hôm ấy, trời mưa rả rít, mới có bốn giờ mà tiếng ếch nhái uềnh oang vang dội, Nam vừa đặt xong cái “lộp” [2] cuối cùng thì như những bóng ma, toán Biệt Kích từ trong ven rừng tràm ào ra, chúng tóm lấy thằng bé như một con nhái.

Tên chỉ huy cao to, có hàm râu quay nón thị uy bằng một cái tát như trời giáng, hầm hừ :

-   Việt Cộng con đây rồi. Nhà mầy ở đâu ? Việt Cộng ở đâu ? Nói !

Có lẽ ngọn đòn phủ đầu quá đau làm cho Nam vượt luôn qua giới hạn của sự sợ hãi thường tình. Căm thù lan tỏa trong lòng đã khiến Nam như một con chuột cùng đường, phải xù lông lên mà chống lại, Nam bậm chặt đôi môi hình như có cả cái vị mặn của máu để không khóc trước kẻ thù và dù chỉ là một đứa bé không được đi học, Nam cũng hiểu được rằng, sự an toàn của các chú giải phóng trong Cứ đang được mặc cả bằng chính mạng sống mình Mãi đến bây giờ, Nam cũng không hiểu được vì sao mình lại có thể bình tỉnh được như vậy. Nam nhìn vào cạnh rừng, chầm chậm trả lời :

-    Tôi chỉ còn có má, nhà tôi bên kia Vàm Kinh Nhì. Tôi không thấy ai là Việt Cộng hết.

Nam chỉ tay xuống xuồng :

-    Tôi dở lộp chỉ được bấy nhiêu, mấy ông muốn lấy thì cứ lấy.

Tên chỉ huy ngẩn người trước thằng bé thông minh, cười khà khà :

-    Thằng nầy ngon ta! Thiệt không “ông con”. Thôi được, người lớn như tao không hơn thua với trẻ con. Cho mầy đi.

Không một lời cám ơn. Nam đặt cái lộp và con rùa vàng lên bờ như đã hứa rồi chống xuồng đi thẳng.

Nhớ lại, lúc ấy, khi quay lưng lại với kẻ thù, Nam vẫn sẵn sàng chờ đón một loạt đạn bắn từ phía sau với sự bình thản đến lạ thường. Vậy mà sự dũng cảm của đứa bé con nhà nghèo Đồng Tháp Mười cộng với con rùa vàng hơn ký và mớ cá rô mề vàng ươm đã cứu thoát Nam trong gang tất. Lúc đối diện với kẻ thù, Nam mới chợt thấy một cảm xúc căm thù dâng lên tột đỉnh, Nam thắc mắc, không biết tại sao, cùng là con người, cùng chung một tiếng nói mà chỉ vì miếng cơm manh áo nhục nhằn, bọn họ lại có thể ngoảnh mặt đi mà bắn giết đồng bào mình. Thiệt là một điều nghịch lý.

Năm 1972, Nam từ giã mẹ để lên đường đi Giải phóng và đó cũng là lần cuối cùng anh nhìn thấy bà. Mẹ Tâm gần như suốt ngày thinh lặng từ khi ba anh hi sinh trong trận công đồn Bảo An Thanh Mỹ, bà lui cui suốt ngày ngoài đồng vắng như để quên đi nổi đau, bà đã nuôi đứa con duy nhất của mình trong muôn vàn nỗi lo bằng tấm lươi giăng ngang con kinh đào, bửa đói bửa no như con gà mẹ bưới tung đám rơm tìm cho được hạt thóc rơi nào đó, rồi thì lại ngoảnh mặt mà dành hết cho con, bàn tay chai sần vì đào cua, bắt ốc mà không một lời thở than, hôm nhận được thư nhà, Nam đang ở mặt trận đang lúc vô cùng ác liệt, yên tiếng súng ngồi bên bờ suối vắng giữa rừng già, lần đầu tiên, anh khóc, khóc tức tưởi như đứa bé lên ba lúc đi chơi mãi vui, quên về bị mẹ đánh. Nam còn nhớ lúc tiển anh đi, ít nói là vậy mà mẹ anh cũng dặn dò :

-     Con à, cha con là Liệt Sĩ, phải ráng xứng đáng là gia đình vẻ vang nghe con.

Từ Trạm An Dưỡng K.44 về, cầm tờ giấy giải ngũ trên tay mà lòng Nam ngổn ngang trăm mối, căn nhà nhỏ đã dột nát, mãnh ruộng chẳng ra ruộng, chỉ có hơn công [3] mà cái hố bom B52 đã chiếm gần phân nửa. Trước mắt vẫn là cái sống, như đều bù lại, cái hố bom lại là nguồn thức ăn cho anh khi nó trở thành một cái đìa. Vậy là, cất đi cái Ba Lô Bộ đội, Nam lại quay về với đồng ruộng, với cái chài, vuông lưới và sẵn sàng khi có ai kêu mướn.

Mãi đến cuối năm đó anh mới biết được thế nào là tình yêu đôi lứa khi tình cờ gặp được con gái ông Hai ghe hàng, đó là một thiếu nữ mảnh khảnh có nụ cười hiền lành, ngày ngày theo cha lênh đên trên sông nước mang đến cho bà con nông dân những mặt hàng nhu yếu từ miếng bột ngọt, keo chao, đậu đường, nước tương cho đến cây kim sợi chỉ.

Trưa nào, khi ông Hai chèo đến chỗ rặng mù u thì đã thấy anh thanh niên mặc cái áo Bộ đội bạc màu chờ sẵn, ghe ghé bến, khi thì mua gói trà, khi thì mua miếng khô và luôn luôn vẫn chỉ là một đồng bột ngọt mua riết gần hai năm thì hai bác cháu có vẻ tâm đắc, ông Hai ghe hàng lên bờ, vào cái chòi cũ rách khi thì bình trà với mấy bịch cốm, lúc thì miếng khô đuối nướng sương sương và cái bình tong Bộ đội chiết ba sị rượu chuôi.

Người ta thường nói : “Ở hiền, gặp lành”, lâu ngày biết được tính ý, ông Hai thương cảm cho cảnh đời cơ cực của anh thanh niên chất phác thật thà, ông tuyên bố" gả con gái cho Nam khi thấy hai người cũng có chìu quyến luyến.

Lần sang thăm vợ chồng con gái khi ghe hàng đi ngang qua, ông già vậy mà hay, thiếu con gái thì đi buôn một mình, cứ chèo, không cần rao, gần như ngày nào bà con cũng chờ ghe ông tớỉ để mua hàng.

Gần với dĩa chuột xào thì ông “Nhạc” của Nam mới “vô đề”.

-     Nói thiệt với mầy, tía vợ mầy đây cũng là người dốt lại không biết cái ... cái gì cà, à, cái khoa học kỹ thuật chi chi đó. Đúng hôn ? À, đất hẹp mà chừa chi cái hố bom, bây giờ kiếm chiếc ghe chừng trăm giạ, thằng Hai mầy qua phía bờ Tiền Giang, nghe nói đất ở bển tốt, không có phèn. Đúng hôn? Rồi, như là chuột tha lúa, làm ngày vài ghe lấp cái hô" bom lại, như mình thay đất mới vậy ... rồi trồng bưởi ? Biết đâu được, nó thì đổi đất còn vợ chồng mầy lại đổi đời. Đúng hôn ?

Dứt câu ông Hai vỗ tay lên đùi mình như để tự tán thưởng và uống một hơi cạn ly rượu đầy.

Nam nghĩ ông già vợ mình nói cũng có lý, cái ước mơ có chiếc ghe một trăm giạ, trước là chở đất lấp hố bom, sau lại cũng còn có chút của nã đã phát sinh trong buổi nhậu tâm đắc ấy. Nói đúng hơn, anh cảm động trước sự lo lắng của cha vợ mà anh thì vốn mồ côi cha từ khi còn nhỏ xíu.

Đêm đó, vợ chồng bàn tính với nhau rất lâu bên ngọn đèn dầu vàng vọt, rồi đi đến quyết định cuối cùng, gom hết vốn liếng chắc mót dành để, từ lúc còn đi bộ đội, cộng thêm mấy chỉ vàng hồi môn của vợ, sáng hôm sau, Nam bơi xuồng xuống sông Trường Tân Lập tìm bác Tám Nhơn theo lời giới thiệu của bà con, hỏi mua lại chiếc ghe cũ.

Qua hai bình trà, nghe gia cảnh của người thanh niên chất phác có ước mơ đổi đời, ông nông dân tốt bụng chẳng những cho thiếu lại gần phân nửa giá tiền mà còn cho thêm mấy ký lô chai [4] trét ghe chưa xài đến.

Vợ nấu chai, chồng miệt mài trét lại với biết bao lạc quan trong lòng, vậy mà định mệnh vẫn chưa chịu buông tha cho Nam.

Dù bụng đã vượt mặt, vợ anh vẫn tiếp tục phụ chồng trong mọi công việc thường ngày.

Chiều hôm đó, Nam đi chài cá trên chiếc xuồng nhỏ ọp ẹp, vợ anh như mọi hôm, cũng lên xuồng bơi lái, Nam đứng trước mủi tung chài. Nước tháng tám đã thấy mênh mông, kéo cái chài nặng trịch, Nam mừng khấp khởi, quặng lên xuồng nghe một tiếng “cộp”, anh giật mình nhận ra cái vật mầu vàng đang nằm im giữa đám cá tép thì không tới ba mươi giây, trái M.79 định mệnh đã hất tung cả vợ chồng xuống giòng sông cuộn chảy. Nghe tiếng nổ, bà con ùa nhau bơi xuồng ra tiếp cứu.

Anh tỉnh dậy ở trạm cấp cứu Huyện mà không hiểu tại sao mình vẫn còn sống. Anh đau đớn tận cùng khi nghe có tiếng ai đó :

-    Tội nghiệp chị vợ, có thai tám tháng mà còn lặn lội phụ chồng, cứu được đứa con, còn bả thì ...

Đã vậy, lũ năm đó lại lên nhanh và sớm hơn cả tháng, chỉ một ngày một đêm mưa tầm tã, cả vùng chìm sâu dưới cả thước nước trong vắt như pha lê.

Nam đôi mắt thất thần, bơi xuồng ra chợ xã mua mười mét ni - lông về vừa bao bộc quan tài cho vợ vừa khóc. Một mình, anh lén bà con chòm xóm chống xuồng ra chỗ bụi tre gai ngoài đầu ngàn vắng vẽ chặt từng cây rồi dựng lên một cái giàn cao hơn mặt nước, có cái mái che. Đến chiều, bà con phụ giúp đưa quan tài người quá cố ra đó, đưa lên giàn cột lại ... Chờ nước xuống mới có thể an táng vào lòng đất được.

Nhìn đứa con còn đỏ hỏn nằm trên cái chõng tre, Nam như người mộng du, anh muốn khóc mà hình như nước mắt đã cạn khô, cõi lòng tan nát. Anh nghĩ chiến tranh đã qua rồi ... sao mà cái hậu quả của nó lại khắc nghiệt đến vậy.

Anh muốn gào lên với cái ông Trời tai ác nào đó, tại sao mà ông ở ác với gia đình anh đến vậy, đến nỗi vợ chết mà cũng không thể an nghỉ vào lòng đất mà phải đợi đến nước rút, đến bao giờ đây hở trời ?

Hơn tháng sau nước mới rút, người vợ bạc phần của Nam mới thực sự được an nghỉ.

Sống, phải sống dù chẳng có gì vui, nhưng trách nhiệm vẫn buộc ta phải sống, Nam suy nghĩ như vậy. Được sự cưu mang của bà con chòm xóm có tấm lòng nhân hậu, thằng Tâm dù sanh thiếu tháng vẫn tròn trịa dễ thương, có đôi mắt giống mẹ, đẹp mà sao buồn mênh mông quá, dù chỉ có mồi món nước cơm với đường. Bé Tâm vẫn lớn lên trong vòng tay của bà con chòm xóm thương yêu đùm bọc. Hình như, bây giờ, đối với Nam, bao nhiêu tình thương anh đều dành hết cho con, nhiều bà nhìn cảnh anh lúng túng thay tả cho con mà đứt ruột ... Ông Kai nhiều lần đề nghị ẳm cháu ngoại về nuôi Nam đều khéo léo chối từ.

Đến lúc bé Tâm được ba tuổi, thì Nam mới nhận ra rằng cái câu “Lực bất tòng tâm” quả là có lý. Anh nghĩ, may mà mình còn có tay lưới và sức lao động để làm thuê làm mướn chớ cái miếng ruộng không phải ruộng mà vườn không phải là vườn của mình chỉ để cỏ hoang mọc, cái đói như một bóng ma đang chập chờn đe dọa hai cha con.

Hôm sau, trục xong miếng ruộng của chú Tám Quang, Nam giao trâu lại cho chủ rồi ở nhà ra sức cải tạo lại chiếc ghe, bé Tâm đã biết đưa cho cái bì thuốc khi anh tạm nghỉ giải lao. Nhìn chiếc ghe, Tâm lại nhớ đến những ngày kỷ niệm, vợ chồng trét ghe với biết bao kỳ vọng, vậy mà

Chiếc ghe một trăm giạ dự kiến để chở đất lấp hố bom cho mảnh vườn mơ ước nay được Nam cải tạo lại thành một chiếc ghe hàng, nói đúng hơn, đó là một ngôi nhà nhỏ trên sông, qua bàn tay khéo léo của Nam, cũng có cái bếp, cái chõng tre cho hai cha con, bên hông ghe, anh còn treo thêm mấy cái thúng cũ, chứa đất rồi trồng ớt, trồng hành và mấy thứ rau thông dụng.

Ông Ngoại Bé Tâm vừa là nhà tài trợ vừa là nhà tư vấn cho anh con rể tội nghiệp. Trước khi lên đường, Nam làm mâm cơm cúng vợ :

-     Lúc còn con gái, “ông” (4) cũng theo tía đi bán ghe hàng. Tui sợ con mình nó đói. Tui xin đi theo con đường của tía. “Ông” sống khôn thác thiêng phù hộ cho cha con tôi sống đấp đổi qua ngày.

Sau khi gởi lại ngôi nhà ọp ẹp cho bà con lối xóm, Nam mang lư hương người yợ quá cố, xuống ghe.

Cuộc sống lênh đênh trên sông nước cũng dần quen với cha con anh, mới bốn tuổi bé Tâm đã biết bơi thành thạo, tối ngày quanh quanh quẩn quẩn trên ghe, chú cứ nhìn bao điều mới lạ trên từng bến nước. So với những đứa bé cùng trang lứa sông trên bờ, hình như, Nam thấy con mình thiếu đi cái vẽ linh hoạt vô tư, đôi mắt to đen, hàng mi cong vút cứ nhìn lạ lẫm trên đường lãng bạc thương hồ, thú vui duy nhất của bé Tâm chỉ là con gà tre nhỏ xíu vừa mới nhú cái cựa như hai hạt bắp non, bập bẹ vụng về gáy những tiếng đầu đời vào mỗi bình minh trên khu chợ nổi. Tuy là trên sông nước, tình người dù ở đâu cũng tỏa sáng đậm đà, đó chính là cái tính Nam Bộ Nghĩa Tình.

Chiếc ghe vừa cặp bến là có tiếng lao xao thăm hỏi. Người chở dừa từ Bến Tre kẻ chở cá từ Hồng Ngự, cây trái ở Cái Mơn, rau cải miệt Cái Vồn ...

Chiếc ghe hàng của Nam như một cửa hàng Bách hóa nổi trên sông, lúc thì nghe tiêng ới từ phía sau hỏi mua mấy gói mì tôm, khi thì có ai đó gõ nhẹ vào vách hỏi mua mấy trứng vịt lạt ...

Coi vậy chớ sống gần cũng có chút tình hàng xóm, hàng - xóm - trên - sông. Nhiều ghe không thể về nhà kịp giỗ, đã làm đám ngay trên chiếc ghe của mình và có lẽ không nơi nào lại có lời mời đám đặc thù như xóm ghe Thương hồ:

-    Chú Hai ơi, chiều nay tui có làm mâm cơm cúng “Bà già” [5], năm giờ chú tới nhen, ghe tui đậu đằng bến Bà Tám Nhị. Nhớ nhen, nhiều ghe lắm đó !

Buổi tối, nhiều khi Nam phải phóng nhờ đến ba bốn chiếc ghe mới tới được chiếc ghe “cốt” nào đó. Bạn bè đồng cảnh đang chờ anh trước mâm rượu đơn sơ mà biết bao nghĩa tình.

Cứ mỗi buổi chiều về, Nam lại cặp ghe nhờ bến nào đó, lui cui nấu buổi cơm chiều, bé Tâm lại ngồi bó gối nhìn con gà tre đang ung dung rĩa lông cánh, cuộc sông ấy hình như quá đơn điệu với dứa bé sáu tuổi, cái tuổi lẽ ra phải được đến trường và nhất là cần có sự chăm sóc ấm áp của một người mẹ. Nước ròng, giòng sông thinh lặng trong buổi chiều tà, Nam chấp tay sau lưng nhìn về phía cuối chân trời. Anh nghĩ cuộc đời sao mà buồn quá và cũng ngắn ngủi quá, lại nhớ đến người vợ bạc sô'. Anh vấn điếu thuốc Xuân lộc, Nam chợt dừng tay, một mùi hương nồng ấm vừa được khứu giác anh phát hiện. Anh nói một mình :

-   Đúng rồi. Mùi đât, mùi đất.

Anh lại miên man suy nghĩ khi cái mùi nồng nàn của đất mang anh về với mảnh đất thân yêu, ở đó có nơi yên nghỉ của hai người phụ nữ đã một dời vì anh.

Như giòng sông lặng lẽ, mọi điều rồi cũng sẽ qua đi, những bất trắc chực chờ trong chiến tranh, những tang thương và thù hận, những nỗi nhục nhằn bất công của cảnh đời cùng khổ ... để rồi, cuối cùng cũng giông như lớp phù sa chìm lắng dưởi đáy sông suốt một đời muộn phiền lặng thinh, trầm lắng như tấm lòng bất hạnh của anh, và trong lòng đất, đất vẫn thở từng hơi thở dài nồng ấm mang lại sức sông cho con người, cho cây cỏ, từng bụi tre xào xạc sau hè, từng bờ tung ao cá, từng ngọn cây điên điển vẫn trổ bông vàng rực bên cái hố bom chiến tích một thời, từng cây tràm, cây đước vẫn kiên trì bám lấy đất dể tìm sự sống ...

Đất có một mùi hương mà chĩ có ai yêu nó mới có thể cảm nhận được, Nam lặng nghe tiếng xào xạc của rừng tràm trên bờ, cái mũi đất nồng đượm như làm cho anh thấy được sự liên kết giữa đất và người, nó đậm đà thân thiết biết bao.

Nhìn lại phía bàn thờ, bé Tâm đang thắp nhang cho mẹ, cái bóng nhỏ bé lặng thầm trong buổi chiều nhạt nhòa ấy như chợt làm cho anh thấy ra rằng đã quá ích kỹ và thiếu đi trách nhiệm của một người cha.

Nhìn theo đám lục bình có mấy đóa hoa tím xuôi theo giòng nước bạc, Nam nói một mình :

-   Giỗ mẹ bé Tâm lần nầy mình sẽ ở lại nhà, xây hai cái mộ cho cao hơn một chút, rồi còn phải làm khai sinh và xin cho bé Tâm đi học.

Quăng cái tàn thuốc xuống sông, kéo theo một vệt đỏ như sao băng, Nam lại

nhớ :

-  À, còn cái hố bom nữa, lần nầy phải lấp cho bằng được cho mẹ bé Tâm vui, rồi còn lên líp, xả phèn, trồng bưởi, trồng cam.

Bất giác Nam lại nhìn về phía bàn thờ của vợ, nói như một lời hứa:

-   Lên bờ, phải lên bờ thôi. Sống mà thiếu cái hơi đất nó buồn dữ lắm, giống như cây tràm, cây đước vậy, thiếu đất làm sao mà sống nổi.

Trên chiếc ghe thương hồ nào đó bỗng vang lên tiếng ghita phím lõmnức nở điệu Nam Ai của buổi chiều thinh lặng, giòng sông bình yên như đang phả nhẹ một thoáng sương mù.


 

(4)    Ông : Tiếng gọi thân thuộc giữa vợ chồng miền Tây Nam Bộ.

(5)    Bà Già: Tiếng gọi Mẹ của Đồng Bằng Nam Bộ.


 

[1]   Ghe hàng : Cửa hàng tạp hóa trên sông

[2]   Lộp : Dụng cụ đan bằng tre dùng để săn bắt cá, tôm

[3]   Công : Đơn vị đo lường tương đương với Sào

[4] Chai : Một loài dầu cô đặc, dùng trám các kẻ hở của ghe xuồng.

[5] Bà Già : Tiếng gọi Mẹ của Đồng Bằng Nam Bộ.


THẢO BÍCH


Cập nhật ngày 8.12.2011 theo nguyên bản do Ban tổ chức cuộc thi chuyển đến Website Sông Cửu Long