CUỘC THI TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG LẦN THỨ IV
HỘI LIÊN HIỆP VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH AN GIANG ĐĂNG CAI NĂM 2011

CÁC TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO
Cập nhật ngẫu nhiên không theo số điểm

GIỮA HAI LÀN NƯỚC

+ THẢO BÍCH

Khi chiếc tàu khách Vĩnh Thuận vừa kéo còi chạy ngang cù lao, chú Tư dù đang làm gì cũng tạm dừng tay rồi bắt lên bếp cái ấm nước đã đen theo mầu thời gian ... Lý do có cái thói quen đó là cứ vào giờ tàu về bến thì chú lại có khách ghé thăm, uống trà.

Chú chép miệng :

-   Mới đó mà đã bốn mươi năm ... Nhìn đăm đăm vào ngọn lửa, ấm nước reo sôi mà chú cứ nghĩ ngợi đâu đâu.

-    Tết 1968, khi Đài Tiếng Nói Việt Nam phát đi bức thư chúc Tết của Bác Hồ thì chú, lúc đó chỉ là cậu học trò 15 tuổi ôm cái “bồng”(1), hớn hở bước xuống xuồng để đến điểm tập kết của Tiểu Đoàn 514 trong đợt tuyển quân đầu năm.

Thế rồi, chú lớn lên, trưởng thành hơn trong mịt mù khói lửa chiến tranh, dù đã là một chiến sĩ, nhiều đêm tòn teng trên võng trong rừng khi dừng quân, chú cũng không ngăn được hai hàng nước mắt vì nhớ má, nhớ nhà ...

Chú nghĩ, nếu mỗi một con người đều có một cái số mà người ta hay gọi đó là Mệnh đời thì quả thật là cái mệnh đời của chú sao mà long đong quá ...

Cha chú hơn nữa đời người đi đợ cho Cai Tổng Phèn mới sang được miếng ruộng hai “công”(2), từ miếng mộng nứt nẻ mầu phèn vàng ố, biết bao mồ hôi đã đổ xuống đó để trở thành miếng vườn trồng xoài cát “chu”, nhưng có lẽ, cũng lại là mệnh đời, chưa kịp mừng khi vườn cây có trái thì quân Mỹ đổ vào Đồng Tâm lập căn cứ ... Tụi Mỹ sợ giải phóng quân đến đổi mở rộng vòng đai căn cứ rộng đến chục mẫu(3) máy bay trực thăng suốt tháng rải ba cái thuốc diệt cỏ gì đó. Ban đầu là mấy cây mận Hồng Đào rồi đến mấy chục gốc xoài cát “chu” héo lá rồi bật gốc, chết tức tưởi... Ông Nông dân nghèo có đến ba phần tư cuộc đời lập nghiệp bằng nghề ở đợ cho Địa chủ uất ức để rồi mang cái bệnh lao phổi vì ba cái thuốc khai quang ...

Đang học lớp Nhì trường làng thì phải nghỉ học vì cha chết, chú Tư nhìn bầy trực thăng Mỹ ngày ngày bay ngang mà lòng thù hận sụt sôi như dòng sông trước nhà ...

Mệnh đời, vận nước đều đang một mầu ảm đạm, cùng với các đồng đội, chú chiến đấu bằng cả tấm lòng hận thù đến nổi cả Tiểu Đoàn đều biết tiếng vì chiến đấu can đảm kiên cường ... mấy năm sau, chú rời Tiểu Đoàn về Huyện làm công tác dân chính với Tổ Thuế Đảm Phụ của chú Năm Chiến thì bị thương trong một trận chiến không cân sức giữa người chiến sĩ giải phóng, trang bị khẩu AK đốì kháng với một phi đội trực thăng Võ trang 6 chiếc trên cánh đồng Long Thuận ... bị thương và bị bắt đưa ra Phú Quốc, trại tù, được mệnh danh là “Đảo quốc không có ngày về” ... mấy năm trời bị tra tấn tàn độc chứ vẫn sông trong vòng tay của đồng chí, đồng đội.

Khi cả nước vở òa niềm vui lớn ngày 30/04/1975 chú trở về nhà với một thân xác tàn tạ vì tù đày tra tấn và một mảnh M.79 nằm đâu đó trong đầu, cứ trở mùa là đầu chú như muốn nổ tung, trí nhớ mờ nhạt, lúc nhớ lúc quên ... Sau thời gian nghỉ dưỡng, Chi Bộ điều chú về xã công tác, chỉ mấy tháng là chú xin nghỉ, cái miểng M.79 đã hủy hoại trí nhớ chú thì làm sao mà hoàn thành nhiệm vụ cho được ...

Về nhà, chăm sóc mảnh vườn, ôm từng cục đất đi lấp hố bom, cần mẫn như một con ong thợ để phục hồi miếng vườn thân yêu mà cha chú để lại bằng cả một đời cơ cực. Nhiều lúc chú như thấy bóng cha loáng thoáng cui cui ngoài vườn.

“Ai mài dao, mài kéo hôn... Chú Tư rời vồng, đứng lên khi nghe tiếng rao quen thuộc đó ... tiếng của Năm Tấn, người đồng đội cũ của chú lúc ở 514, giải ngũ. Năm Tấn làm đủ thứ nghề vì không có đất vườn, không vợ, không con, chọn cái nghề mài dao mài kéo sống qua ngày, đồ nghề võn vẹn mấy thứ đựng trong cái thùng đạn của Mỹ còn sót lại, anh cựu chiến binh vừa đi kiếm cơm, vừa lang thang đi tìm thăm đồng đội và đúng hẹn như một cái đồng hồ, Năm Tấn hễ đến Rằm([1]) là qua cồn tìm thăm bạn chiến đấu ngày nào ...

Như thường lệ, cái bình trà với mấy cái “chun”(5) nhỏ sứt mẽ được dẹp vô, thau ốc luộc bốc khói và chai đế ba xị được chủ nhà mang ra, hai ông lính già ngồi nhâm nhi “chén chú chén anh” trong buổi chiều tà của cái “cù lao” yên ắng. Đúng như câu “Rượu vào lời ra” của người xưa, Năm Tấn khề khà kể lại những kỷ niệm khó quên của một thời tung hoành ngang dọc ... Chú Tư thì cứ cười cười im lặng vì cái trí nhớ mờ nhạt không có chút ấn tượng nào, đang nói “ngon lành”, Năm Tấn chợt ngừng lại, suy nghĩ :

-    Trời đất, ổng có nhớ mẹ gì đâu mà mình kể, may mà ổng còn nhớ mình là thằng “Tấn Trâu” kể cũng đã hên lắm rồi ... Chai rượu cạn dần, chú Tư với tay lấy bì thuốc Xuân Lộc vấn điếu thuốc, loay hoay thế nào mà cái quẹt lửa xài dầu lửa của chú rơi xuống đất, chú thò tay xuống bàn tìm, bỗng chú đụng phải cái thùng đạn đựng đồ nghề của Năm Tấn ... Hình như có một tia chớp rực lửa trong đầu chú và sáng suốt hơn bao giờ hết, chú đã nhớ lại được mọi thứ chú lẩm bẩm :

-   Cái thùng đạn… cái thùng đạn.

Hồi ức hiện về rõ như mới ngày hôm qua :

Tới ngang Doi Năm Lý, chú Tư lơi nhẹ tay dầm, trong lòng bồn chồn lạ thường, cái tin Tám Ti “chiêu hồi” làm chú lo nghĩ suốt mấy ngày nay. Tám Ti và chú là bạn coi trâu từ thuở nhỏ, cùng lớn lên trong sự đọa đày của địa chủ , Ba Xê một tay địa chủ hung ác, một tay địa chủ hung ác lúc nào cũng sấn sàng đập “ba toong” lên đầu tá điền khi có điều không vừa ý.

Cơn sóng Mậu Thân như một ánh bình minh lóe lên trong đêm tối nô lệ mịt mùng … Khi Bộ đội rút quân, Chú và Năm Ti có mặt cùng với mấy mươi trai làng thoát ly theo Bộ đội. Ba năm sau, Chú lại gặp Năm Ti khi về nhận nhiệm vụ kinh tài cho đơn vị K.18 .., Chú có cảm tưởng anh ta rất rõ về mình và bây giờ lại chao đảo rồi ra “chiều hồi” thì đối với Chú đó là một nguy cơ rất lớn.

Đêm nay, Chú có cuộc họp Đảng, địa điểm là cái chuồng trâu bỏ hoang bên bờ sông Kinh Nhứt, Chú ngước nhìn lên, trong hoàng hôn nhập nhoạng, cái chuồng trâu in rõ trên nền trời xám xịt của buổi chiều ba mươi Tết.

Bơi nhẹ xuồng ghé vào buội tre già bị lở đất ở sát bờ sông, vừa định nhận chìm xuồng để giấu thì ... Chú nghe tiếng kim loại va chạm thật khẽ, kinh nghiệm lăn lộn chiến trường cho Chú biết, đó là tiếng lên cơ bẩm súng của ai đó, Chú chỉ kịp ôm lấy cái thùng “luộc” rồi phóng mình xuống sông.

Nhiều loạt tiểu liên cày tung mặt nước, Chú lặn thẳng vào hỏm sâu chỗ bờ tre bị lở đất, đạp cái thùng vào đó rồi nhanh như một con rái, bật ngược lại, đạp chân, lặn sang bờ đốì diện ... vừa leo lên đến bờ ruộng có gốc cây điên điển, Chú bỗng bị giật mạnh ở vai, rồi ngã chúi vào gốc cây, bất tĩnh.

Chú tỉnh lại trong cái lạnh khủng khiếp, Chú run bần bật trong tiếng động cơ trực thăng và tiếng máy bộ đàm rè rè, chú đã bị bắt và quăng nằm trên sàn chiếc máy bay UH1B của tụi Kiệt Kích, dù vẫn còn choáng, Chú vẫn nhận ra được giọng nói của Năm Ti:

-      Thằng nầy là Cán bộ kinh tài của K.18 hổng biết sao bửa nay nó .không mang theo cái thùng “luộc”, tui biết rất rõ, tiền gởi về là nó qua Miên mua vàng cho tổ chức, trong cái thùng đó có đến 45 cây vàng 24K ... Vậy là mấy ông “xui”, thôi thì “lượm” được cây K.54 coi như phần thưởng an ủi bén!

Tiếp theo là giọng cười thật đễu cáng. Có tiếng của ai đó :

-   Nghe mầy báo cáo chắc như “ghịch” vậy mà hổng có cái con mẹ gì hết. Toán thám Báo thiếu điều bứng luôn gốíc điên điển mà chẳng thây “luộc”, “xào” gì hết, đúng là thằng V.C nầy bửa nay đi họp “mình không”. Như con trâu của ông cả lần bị trúng miễng pháo, chỉ cầm máu qua loa rồi Chú được quăng vào trại A4 của Trung tâm giam giữ tù Phiến Cộng của Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn 4 Sài Gòn trên lộ 19 cần Thơ.

Gần cả tháng trời, ngày nào cũng phải đối mặt với tên Trung úy Tuấn, Sĩ quan điều tra Phòng Nhì, lại là sự im lặng trước các câu hỏi quen thuộc, phiên hiệu đơn vị, cấp bậc, chức vụ v.v... và lại tiếp tục “đi máy bay”, “tàu lặn”.

Tra tấn mãi hình như cũng chán, cuối tháng đó, tên Trung úy Tình Báo nhìn Chú lắc đầu rồi cười:

-   Tao hiểu hổng nổi mấy thằng nông dân tụi bây, thì nhận mẹ nó mình là Cộng sản đi để tụi tao dễ hoàn tất hồ sơ, tụi bây khỏi bị tra tấn, tao đỡ mệt một chút. Thôi được tao còn mười mấy thằng nữa, hơi sức đầu mà “đeo” theo một mình mầy. về trại sửa soạn đồ đạc, ngày mai đi “Đảo”.

Cùng với hai mươi tám người cùng cảnh ngộ, tối hôm đó, Chú bị lùa xuống tàu ra Đảo, khi đến Đảo, Chú mới hay ở một phiên tòa quân sự Mặt trận nào đó của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa chết tiệt mà Chú không hề hay biết, Chú đã có cái án khổ sai lưu đày 12 năm với số thẻ bài 23.538 !

Trong tù thiếu thốn thuốc men và hai miểng đạn trong hốc vai và trong sọ cứ hành hạ mãi, nhất là những đêm mưa lạnh, đầu óc Chú như vang rền tiếng trống trận … Chú gần như quên hết những chuyện đã xảy ra trước đó, có ai nhắc, vận dụng suy nghĩ cả tiếng đồng hồ mới từ từ nhớ ra, vậy mà hổng biết sao cái thùng đạn đồ nghề của Năm Tấn lại làm Chú nhớ lại cái thùng đạn đựng vàng năm ấy ...

Hẳn Năm Tấn khi từ giả ra về cũng phải thắc mắc trước thái độ lừng khừng kỳ lạ của người đồng đội cũ.

Mấy ngày trời, chú Tư cứ tòn teng trên võng mà suy nghĩ. Phải chăng là Định mệnh ? Phải chăng ông trời thấy Chú nghèo quá mà thương tình ban phát ơn lộc ? Còn ai nhớ đến sô" vàng nầy ? Chỉ một mình đồng chí Mười Trí, Thủ trưởng của Chú và Chú biết đến cái tài sản nầy ... mà Anh Mười đã hi sinh vậy thì ... ờ còn Năm Ti nữa nhưng hắn đã bị tiêu diệt ... vậy thì vậy thì ...

Chú Tư như đang ngụp lặn giữa hai làn nước, gia đình nghèo, mấy chục lượng vàng ấy sẽ tạo cho chú điều kiện đổi đời. Chú Tư ngồi dậy, quyết định đi tìm cái thùng đạn khi con nước lớn mười hai giờ đêm tới.

Gần sáng thì chú Tư tìm được vị trí cũ, qua khỏi cái doi có bụi điên điển vàng rực, chú nhìn bên kia bờ con kinh, có bụi tre già ... trời ơi, đúng là bụi ứe già bị lở đất.

Bao nhiêu hồi ức như đang cuồn cuộn quay về, cả một bầu ười thinh lặng, chỉ một mình Chú giữa quạnh hiu. Có đến hơn tiếng đồng hồ miên man suy nghĩ, nhìn quanh, không có ai, Chú nhẹ nhàng tuột xuống nước rồi bơi qua phía bờ đất lở chỗ bụi tre già, tim đánh thình thịch như đang làm một điều gì đó khộng chân chính.

Có đến hơn nửa tiếng đồng hồ lặn hụp bươi tìm Chú mới rờ gặp cái quai của cái thùng “luộc” nằm sâu vào bờ đất, ngay đêm đó, Chú quay về nhà với cái thùng “luộc” vẫn còn y nguyên sau hơn mấy mươi năm nằm sâu dưới mặt nước.

Đêm hôm đó, Chú thức trắng một đêm. Sau khi cả nhà đã đi ngủ, Chú xuống bến, dở sạp xuồng mang cái thùng “luộc” lên nhà.

Dưới ánh đèn dầu, cái thùng nằm trước mắt Chú, những ngày gian nan máu lửa như tràn về trong tâm trí...

Cái thùng nầy Chú đã nhận từ tay đồng chí Mười Trí, cán bộ Thủ trưởng của Chú khi anh Mười hi sinh dưới họng súng Đại liên 6 nòng của tụi Biệt Kích “xuồng bay” [2] thuộc trại lực lượng Đặc Biệt B. 19 ở Bà Bèo, Mộc Hóa giữa một đêm không trăng sao của tháng 11 năm 1970, Chú đã gói xác người Thủ trưởng trong cái vỏng dù rồi chôn trên bờ đất duy nhất còn nổi trong biển nước của mùa nước nổi năm đó giữa Đồng Tháp Mười bạt ngàn lộng gió.

Chú lấy tay mơn man trên nắp thùng, dù đã bao năm tháng, nó vẫn còn mới như mới ngày hôm qua, sợi dây dù làm quay đeo vẫn còn chắc tuy có hơi phai màu...

Chú nhẹ nhàng mở quay khóa, cái vòng đệm bằng cao su chống vô nước vẫn còn mới nguyên.

Nhẹ nhàng, Chú trút tất cả lên cái mặt bàn tự tạo. Những lượng vàng lá còn nguyên trong cái bao bì bằng giấy hồng điều, những tài lĩệu sổ sách nằm la liệt trước mặt Chú.

Chú đếm lại, còn đủ 32 lượng vàng lá nằm chung với tập biên lai thuế đảm phụ.

Trong lòng Chú lúc đó hình như đang dậy sóng .. Chú cứ miên man với bao điều suy nghĩ ... Trí óc lênh đênh giữa hai làn nước đục trong cũng giống như cái vùng đất Cù Lao nầy, ở giữa hai làn nước, một bên là dòng nước lợ từ cửa biển ùa về, còn một bên là dòng nước ngọt ngào phù sa của con sông Tiền huyền thoại...

Chú quay cuồng với những lý do nào là nhà mình nghèo quá, vợ con nheo nhóc, bửa đói bửa no, rồi thì ... có ai mà biết được sô" vàng nầy vẫn còn... minh đã từng bị thương tích, bị tù đày, mình cũng xứng đáng được thừa hưởng số vàng nầy chớ ... Rồi Chú lại nói, một mình :

-   Mình còn là một Đảng viên, mình cũng đã từng chiến đấu sống chết với kẻ thù.

Chú mở một phong bao, trong đó, có một miếng vàng mỏng có in nổi hình một con rồng và còn kèm theo mấy miếng nhỏ để đủ sô' một lượng ... Cầm miếng vàng nhỏ lên, dưới ánh sáng của ngọn đèn hột vịt, nó lóng lánh một mầu tuyệt đẹp, Chú lại nghĩ :

-    Chỉ cần một miếng vàng nhỏ nầy thôi là nhà mình có đầy khạp gạo, thằng Hai có bộ đồ mới và ăn Tết với một nồi thịt kho hột vịt nước dừa ...

Chú lại nhìn lên mái nhà dột nát:

-   Rồi mình sẽ đi cưa mấy khối Thao Lao, kêu thợ Chợ Mới về cất căn nhà sàn một “gian” hai “chái” rồi thì ...

Vừa suy nghĩ Chú vừa lấy tay mân mê cái thùng “luộc”, dưới đáy vẫn còn một mảnh giấy vàng, Chú lấy ra đưa lại trước ánh đèn ... thì ra đó là một tấm ảnh của Bác Hồ, quà tết dành cho dân quân miền Nam năm đó, phía sau có mấy câu thơ, bắt đầu là câu :

“Xuân nầy hơn hẳn mấy Xuân qua”

Đã qua bao nhiêu năm, mà tấm ảnh vẫn còn mới, Bác Hồ thân thương hiện ra trước mắt.

Cả một thời chiến đấu đánh Mỹ lại ùa về trong tâm tưởng, Chú nhắm mắt lại mà hình ảnh hào hùng của những trận công đồn diệt thù vẫn hiện rõ mồn một, tiếng kèn thúc quân, tiếng thét “xung phong”, tiếng súng nổ vang trời... rồi những người đồng đội thân thương đã hi sinh ngã xuống, Chú bàng hoàng nhìn lại chiếc thùng kim loại vô tri vô giác mà sao lại có tiếng nói của lương tâm : Lương tâm một chiến sĩ, lương tâm một Đảng viên. 32 lượng vàng nầy là tài sản của Đảng, của Nhân dân, bao nhiêu xương máu thiêng liêng của những đồng đội đã mãi mãi nằm xuống chiến trường không cho phép Chú tự hủy hoại cái lý tưởng của một thời theo Đảng, trong suốt cuộc chiến giải phóng Dân tộc mà Chú đã thề đi theo suốt đời.

Cái thùng kim loại ấy như một nhân chứng có tiếng nói thiêng liêng. Chú tự hỏi Bác Hồ một đời đi làm Cách mạng có bao giờ nghĩ đến đặc quyền, đặc lợi cho riêng mình ? Như câu nói “Hãy tự hỏi mình đã làm được gì cho Tổ Quốc chớ đừng hỏi Tổ Quốc đã cho ta những gì ?”. Như Chú đã từng nghe.

Sáng 30 Tết năm đó, Chú mang cái thùng “luộc” bơi xuồng lên Huyện. Chú quyết định trả lại cho Đảng toàn bộ sô" vàng và giấy tờ tài liệu. Chú chỉ xin được giữ lại cái thùng đạn của một thời chiến đấu, cái thùng kim loại vô tri, vô giác mà lại có tiếng nói của lương tâm, của quá khứ một thời ngang dọc vẫy vùng của anh Bộ Đội cụ Hồ. Đích thân đồng chí Bí thư Huyện ủy ký và ữao cho Chú tờ biên nhận, Chú cảm thấy nhẹ cả lòng, lâng lâng một nỗi tự hào, khi nhìn thấy phía sau chỗ ngồi của đồng chí Huyện ủy có dán khẩu hiệu là một câu nói của Bác Hồ :

“Ớ đời, con người có bốn đức là cần, kiệm, liêm, chính. Thiếu một trong bốn đức ấy thì không thành người”.

Cả thị trấn đang tưng bừng chào đón năm mới Chú cảm nhận một chút hương Xuân đang len lén ùa về trong tiếng trống múa lân của bầy em nhỏ trong ngõ phô" xôn xao ...


 

 

<6) Xuồng bay: Xuồng bằng vỏ nhựa,trang trị động cơ máy bay L19, bay lướt trên mặt nước


THẢO BÍCH


Cập nhật ngày 8.12.2011 theo nguyên bản do Ban tổ chức cuộc thi chuyển đến Website Sông Cửu Long