CUỘC THI TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LẦN THỨ IV
HỘI LIÊN HIỆP VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH AN GIANG ĐĂNG CAI NĂM 2011
CÁC TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO
Cập nhật ngẫu nhiên không theo số điểm
KINH BA THIỆT
+ NHẬT HỒNG
Ba Thiệt nói với vợ: “Em coi lại còn thiếu thứ gì không? Đèn, dầu, đá lửa, ống quẹt, muối, gạo…lên đồng mà thiếu một món là không được đâu nghen!” Tư Hà nhìn chồng nói: “Anh lo phần của anh kìa: Phảng, leng, cuốc, búa, rựa …có chưa?”
- Có rồi!
Chiếc xuồng chèo tam bản chở lủ khủ đầy nhóc những vật dụng, Tư Hà ngồi sạp mũi kế bên con phèn chồm hổm nhìn con mèo nhốt trong gọng cứ kêu meo meo, làm cho phèn bực bội buông ra những tiếng ằng ặc trong cổ họng. Cầm cây giầm trong tay khuấy nước tư Hà giục chồng:
- Đi được rồi anh ơi!
Ba Thiệt ngoái nhìn căn nhà, nhìn bến nước xao lòng, anh cảm thấy lần đi nầy là lần ra riêng, con chim đã tách tổ, nên cố nhìn thấy được bóng của ba má hoặc các em một lần để nhớ. Lời của ba anh luôn ghi nhớ trong lòng: “Thiệt à! Con đã nên gia thất rồi, phần đất ở kinh Ngã Giữa trước đây của Hội Đồng Phương cách mạng vừa giành lại về dân mình rồi, vậy con lên đó dựng trại phát cây lập cơ nghiệp ở đó đi. Phần ba ở đây, lo cho các em con còn đông lắm!”
Nước thuận dòng xuồng chèo đi êm ru, vừa lọt vô vàm kinh Ngã Giữa trời cũng vừa đứng bóng, dòng kinh bị cỏ nga, lục bình hai bên lấn át chỉ còn đường nước nhỏ xíu vừa cho chiếc xuồng lướt tới. Hai bên bờ kinh đế sậy mọc cao ngất ngưỡng, vắng ngắt bóng người, xa xa vài cụm khói bốc lên như báo hiệu có người cũng lần về lo mùa vụ. Anh nhắm hướng cây gáo ranh đất mình ở mé kinh tấp xuồng vô. Con chim bói cá vừa vớt được con mồi bay vèo qua mũi xuồng làm giựt mình con phèn chực sủa.
Cấm xuồng xong anh kéo tư Hà lên bờ đạp cỏ sậy phát quang còn anh tìm gò cao để hạ trại. Đang đào lỗ dựng cột anh chợt nhớ lời của ba: “Dựng trại cũng như dựng nhà, phải dựng cây cột cái phía mặt trời mọc trước, kế đến cây còn lại, chú ý cột cái phải đứng thẳng, kèo, đòn dông phải cứng để chịu đựng. Buộc dây, phải buộc cho chặt mới chịu đựng được mưa to gió lớn.”
Bữa cơm chiều đầu tiên trên nền đất mới phát còn lổm chổm gốc sậy, ba Thiệt nghe ngon miệng làm sao á! Mùi cỏ vây quanh, mùi thơm cơm gạo lúa trắng tép bốc hơi xông vào mũi anh ngây ngất, tư Hà cười tủm tỉm:
- Anh thấy em nấu cơm giữa đồng ngon hông?
- Ngon lắm! Thơm… đủ thứ có mùi của em nữa!
Vừa gắp đũa rau muống Thiệt nói:
- Ăn cơm rồi, mình lo chỗ ngủ, ngày mai làm tiếp phần phên vách trại cho xong, mốt anh bắt đầu phát đất giâm cho kịp mùa màng. Anh vừa nói vừa khều phần cơm cho con phèn.
- Nhà mới của mình đây nghen! Đừng có ăn hiếp con mèo để nó bắt chuột.
Phèn nhay nháy mắt, đuôi ngoắt ngoắt cúi đầu xuống như nghe được lời của ba Thiệt.
Đêm ấy, phèn chạy rồn rột rượt đuổi chuột bò vào nhà, sáng ra mệt nhoài nằm thiêm thiếp trước mé trại. Thiệt nhìn vô góc trại thấy một đống chuột, con nào đầu cũng bị thũng hai lỗ nhỏ xíu rõ ràng dấu cắn của mèo. Con mèo mướp nằm ngủ ngon lành, ngủ vô tư trên bộ vạt tre như không có chuyện gì xảy ra hồi hôm.
Trời vừa chạng vạng ba Thiệt nghe con phèn tru lên hai tiếng chạy hoảng loạn vào nhà ngã xấp dưới đất, hai mắt trợn ngược trào bọt mép, toàn thân run rẩy, cái chân trước bầm tím sưng vù, nhìn kỹ có hai dấu răng rắn hổ rõ ràng . Thiệt và Hà chôn xác con phèn, buồn bã nhìn một thành viên vừa quỵ xuống sau hai ngày hạ trại thất thương tiếc vô cùng. Vừa chôn con phèn xong bỗng tiếng tru tréo mang rợ của mèo mướp bên lùm sậy, Thiệt cầm cây leng lần qua. Một cảnh hãi hùng trước mắt: Con rắn hổ đất phùng bàn nạo cất cao lên mổ xuống đầu con mèo mướp, mèo mướp né sang bên chồm lên hai tay vươn móng đánh vào đầu vào cổ con rắn hổ, rắn hổ bị nhiều vết thương do mèo đánh vã định chúi đầu bỏ chạy, mèo chụp vào cần cổ, đuôi rắn quật xuống mèo buông ra, cứ vờn tới vờn lui rắn bò không được mèo cũng không dám nhào vô. BaThiệt xông vào tiếp ứng nện cho con rắn mấy leng, lôi con rắn hổ về nhà dài thậm thượt. Hà nhìn chầm chập con rắn hổ, nhìn chồng nói:
- Có lẽ, đây là kẻ lấy mạng con phèn. Vậy mướp trả thù được rồi!
Đêm sau con mướp cắn lộn với chuột cống nhum rớt xuống bờ kinh, Thiệt chạy ra bồng mèo vô mặt mày tươm máu.
Những đám mây đen kịt kéo về, cơn mưa đầu mùa rớt đồm độp trên mái lá, gió giần giật như muốn nhổ phăng mái trại, sét nổ ầm đùng ngay trên nóc, lửa phà vô chỗ Thiệt và Hà ngồi nghe mùi khét ngẹt. Ba Thiệt nhìn căn trại bé xíu rùn mình lún chìm trong mưa, nói:
- Tiếp tới đây còn những trận mưa dữ dằn ăn hiếp vợ chồng mình, nếu anh đi trên đồng về không kịp em ở nhà có sợ không?
Hường nhìn chồng lắc đầu:
- Em không sợ, em chỉ sợ tiếng kêu của ễnh ương thôi, ban đêm nghe khiếp lắm! Anh mà bỏ em một mình ở đây chắt chết!
Ba Thiệt gói cơm quấn khăn trên đầu vác phảng lên vai tay cầm cục đá mài nhắm hướng ra đồng, lác cao lút đầu đứng cách nhau vài tầm đất khó mà thấy nhau. Sáng sớm, anh vác phảng đi, xế chiều mới về, cứ liên tục như vậy cả tháng trời. Hai bàn chân nước ăn khoét sâu vào kẻ ngón, ống quyển và đầu gối bị cỏ cắt rướm máu thấy vậy Hà bức cỏ mực đâm dập dập đấp cho chồng, nói:
- Anh nghỉ vài bữa cho lành rồi đi phát tiếp.
- Đâu được em! Trễ mùa rồi sao? Còn cào, dọn đất cấy.
Nhìn thửa ruộng chồng cào dọn xong nước phả lên linh láng như mặt biển. Hà không ngần ngại cấy từng rẽ mạ xuống, hết ngày này sang ngày nọ, mười dầu ngón tay sưng vù, rôm sảy nổi mụn đỏ tới háng. Nhưng nhớ mùa giêng tới mình có vài trăm giạ lúa bán mua cây cất nhà, có con ẳm bồng đầm ấm Hà quên đi nổi mệt nhọc.
Hường vừa dứt tay cấy thì nước lũ cũng vừa tràn về, nhìn dòng nước phù sa ngầu đỏ ngày một dâng cao, rẽ mạ vừa cấy xuống nằm lã chã dưới mặt nước thấy mà tội nghiệp. Rẽ mạ nào không chịu nổi thì lặn rũ xuống, rẽ nào khỏe mạnh bườn lên, Ba Thiệt vô thăm thấy vậy sót ruột mà không có cách nào giúp được.
Những ngày cây lúa ngoi ngóp dưới mặt nước ở nhà Thiệt và Hà cũng bồn chồn lo lắng trong lòng, trông ngóng từng ngày cho nước rút. Mừng nước rút, cây mạ nào còn sống đâm chồi đẻ nhánh làm đòng. Những đòng đòng ngày một lớn tạo cho thân cây lúa phình to xanh mượt. Thiệt nói với Hà:
- Cái mã lúa này năm nay trúng bể bồ.
Sau khi đi thăm ruộng về Ba Thiệt và Hà mừng khấp khởi, xuống xuồng chèo về thăm ba má luôn và luôn tiện báo tin vui. Nửa tháng sau Thiệt và Hà trở lại thăm miếng ruộng, vừa bước vô tới ruộng Hường chợt thấy lúa bị chuột cắn xả gục xuống như ai quần cắt Hà té xỉu bên bờ giồng. Ban đêm anh ra đồng chuột chạy như gà con. Đuổi xô giành giựt với chuột anh gặt được một số ít ỏi đủ để cho hai cái miệng nhai chờ tới vụ sau. Ước mơ của Thiệt và Hà tan đi, nhưng bụng của Hà ngày một đội cao. Đứa con trai chào đời ngay vụ cấy năm sau.
Ước mơ vụt lóe lên rồi cũng vụt tắt. Hết vụ này trông chờ vụ sau. Hết nạn chuột đến nạn chết nước, vuột khỏi chết nước thì bị bệnh chết cháy. Cái bệnh ngặt nghèo, cây lúa vừa trỗ cũng vừa chết héo, để lại những thân cây lúa khô rũ trên cánh đồng buồn bã.
Một hôm Hà nhìn đám con nheo nhóc, nhìn nồi cơm ít xỉn, nói với Thiệt:
- Anh quần quật ngoài đồng từ sáng đến chiều mà nhà mãi túng thiếu. Ở chỗ gì mà mùa nước lên bốn bề như biển, phải gác giàn trên cây xiên nhà để ở, gà vịt leo lên đọt cây ngủ như chim. Đến mùa khô, khô héo hắt, kinh rạch cạn queo, người đi lên đồng phải mang nước theo, hết nước về gấp không khéo chết khát trên đồng. Chưa buồn nào hơn cảnh tháng hai tháng ba, đồng cháy trụi lủi khói bụi mù mù hoang sơ như sa mạc. Em hết chịu nổi cảnh này rồi! Hay là mình bỏ đất chuyển nghề làm ăn như anh Tư Hậu, chị Tám Thìn sang đất làm vốn ra chợ mua bán.
Ba Thiệt nhìn vợ trợn mắt đỏ ngầu:
- Sang đất hả? Tui cấm bà không được nói hai tiếng đó nghen! Hai tiếng đó vừa nghe như động đến mồ mả ông bà ông vãi! Tui sẽ làm giàu trên phần đất này cho bà thấy!
Hà không dám đôi co với chồng, nhưng không hài lòng, nói:
- Ông ở đây làm giàu đi, tui dẫn các con đi ra chợ.
- Làm gì ngoải? Bà tưởng chuyển nghề như trở bàn tay hả. Nơi nào cũng có thành công và thất bại, nghề nào cũng có mặt được, mặt thua của nó. Mình đã quen với ruộng đồng, mồ hôi đã thấm nhiều xuống đất này, có cả máu của bà con mình trong cuộc cách mạng mới có được chủ quyền đất này, mình đành lòng bỏ đi sao?
Hường mềm lòng đuối lý với câu nói của Thiệt nên dầm mưa nắng đi ra đồng, tối về đưa lòng qua câu hát ru con: “Có chồng thì phải theo chồng, đắng cay phải chịu mặn nồng phải cam.”
Ngày thống nhất đất nước Ba Thiệt say mê với cây lúa ngắn ngày, anh là người đầu tiên cho lúa ngắn ngày trỗ bông trên phần đất của mình, năng suất hơn lúa mùa gấp mấy lần chỉ trong thời gian ngắn, khi đó lúa mùa chờ đợi cả năm lắm điều tai ương không biết đâu mà chống đỡ. Ngày thu hoạch lúa mọi người ùn ùn đến xem, cầm bông lúa lên, tách vỏ ra xem hạt gạo trong ngần thơm phức. Lại có tin đồn: “Lúa ngắn ngày ăn sanh bệnh ung thư.” Ai nói gì thì nói, Ba Thiệt chuẩn bị giống làm vụ kế. Trong khi đó những thửa ruộng gần anh người ta chưa tin tưởng nên trộn giống ngắn ngày và lúa mùa xạ lộn với nhau. Cắt lúa ngắn ngày trước, đến vụ mùa gặt tiếp kết quả không được khả quan như của Ba Thiệt. Ông chưa thật sự hài lòng với thành quả đạt được, nên ông đi học hỏi khắp nơi. Nghe xã mở khóa học, ông nói với vợ:
- Bà ở nhà tui đi học cái khóa làm ruộng của xã mở, có cán bộ cấp trên xuống, có kỹ sư cầm tay chỉ việc tận tình cho mình.
Hà đang cho heo ăn nhìn chồng hâm hở ra khỏi nhà lòng cũng phấn chấn nói dới theo:
- Ông ráng nhớ cho kỹ, ghi chép vô tập về dạy cho tui học với nghen!
Sau khóa học về BaThiệt “cái miệng không lành da non” – vợ trách. Ở tiệc nhậu năm bảy người cũng nói, đám giỗ, đám cưới cũng nói về cây lúa ngắn ngày thần nông 5, IR36… Nào là bốn cần của nhà nông: Nhất nước, nhì phân, tam cần tứ giống”. Nào là “cải tạo đất”. “Cải tạo bằng cách nào!”– Người ta hỏi. Ba Thiệt trả lời xuông óng: “Làm cho đất bằng, đào đắp bờ vùng, bờ thửa. Bờ vùng thì xã vận động công sức của nhiều người, bờ thửa thì của ai nấy làm, khai thông nguồn kinh rạch để dẫn và thoát nước dễ dàng thì lúa sẽ trúng.”Trúng tới mức nào” – Người ta hỏi ba Thiệt giải thích:
- Làm lúa mùa trúng được mười lăm giạ là cùng. Tính ra hécta mười công được ba tấn, trong khi đó làm lúa ngắn ngày chỉ có ba tháng rưỡi thu hoạch hai mươi lăm ba mươi giạ trên công, tức là được năm, sáu tấn trên hécta, vụ sau gieo gặt không mất bốn tấn. Như vậy có bảy tám tháng mình được mười , mười một tấn gấp bốn lần vụ lúa mùa trúng lại tránh được nhiều rủi ro. “Cây lúa ngắn ngày thần nông gì đó, cao bảy tám tấc làm sao vượt qua mặt nước?” - Người ta hỏi:
- Ông Thiệt vỗ đùi, cười ngất:
- Anh chị ơi! Nước vừa lên mình đem lúa đổ vô bồ rồi, mặc tình cho nước lên, lên càng cao cá mằm càng nhiều trên đồng.
Bà con nghe Ba Thiệt nói không mấy người tin, có người còn cho rằng: “Ông Thiệt liên tiếp thất mùa bị vợ cự nên đâm ra nhảm”.
Cùng lúc Ba Thiệt cho vợ con ra đồng đắp mẫu, đào kinh xổ phèn. Bà con nông dân tin từ thực tiễn năng suất lúa của hai Thiệt làm ra cùng với sự vận động các ban ngành của xã ấp, bên cạnh đó còn có sự chuyển giao khoa học kỹ thuật của Viện lúa Đồng Bằng Sông Cửu Long, không mấy chốc cánh đồng kinh Ngã Giữa ngày nào lao đao với vụ mùa thất bát nay trúng mùa liền tay. Năng suất bình quân từ bốn tấn trên hécta nay vượt lên đến 10, 11 tấn trên hécta, hai vụ chuyển đến ba vụ. Nông dân Ngã Giữa nhà tường mái ngói mọc lên kề nối nhau, nhà nhà có ti vi cassetle, máy xới, máy bơm nước thay cho sức người.
Nghe theo lời vận động của ban ngành xã, Ba Thiệt đi nói với bà con trong xóm:
-Nay xóm ấp mình có ăn có mặc, nhà cửa khang trang, ngặt nổi đường đi cách trở, vậy họp mặt nhau bàn việc đóng góp công của bắt cầu đấp đường rộng, nghe cán bộ huyện, tỉnh nói: “Đường rộng đến đâu giàu có theo đến đó!’’
Người phản đối gắt trước tiên là tư Hường vợ của Ba Thiệt:
- Ông có thấy ranh đất trên đồng mà người ta còn tham lam đào xén vô hoài riết còn như sợi dây đánh. Huống hồ gì làm đường đi mất đất trước cửa nhà ngang hai mét, chạy dài hao mất biết bao nhiêu không? Còn nữa, bắt cầu ông tưởng ít tiền lắm hả? Còn trăm việc thứ khác, chỉ cần năm bảy hộ ù lì đánh không đi dò không đứng thì bể kế hoạch, mọi chuyện bế tắc tại chỗ.
Ông Thiệt cười hềnh hệch:
- Bà nói đúng có một phần, còn nhiều phần khác bà không biết! Bà thử nghĩ lại coi có cái gì khó bằng vận động bằng ra chiến trường đánh giặc, đi là hi sinh là chết chóc, mà hết lớp này đến lớp khác chen nhau đi cho đến ngày thống nhất đất nước. Còn việc bắt cầu bà nghĩ lại, có khó hơn việc chết chóc như xưa không?
Tư Hà không trả lời, nhưng chưa tin việc vận động lần này dễ đâu? Vì trước đây ông Thiệt vận động làm lúa ngắn ngày vì nó lợi trực tiếp trước mắt với mọi người. Còn bắt cầu làm đường việc lợi nó nằm ở xa lắc xa lơ người làm sao hiểu tới.
Ông Ba Thiệt không ngừng vận động bà con chòm xóm, mặt khác đốc hối mấy đứa con đốn cây đào đắp con đường rộng hai mét trên phần đất của mình. Lắm người cười: “Ông Ba Thiệt lúc này khờ thiệt, dám đốn cây ăn trái đắp đường đi, rồi để xem cóc mọc râu con đường kinh Ngã Giữa mới thông được.” Ai nói thì nói, Ba Thiệt cứ làm, làm rồi đến đến vận động những thân, đến bạn thân... Ủy ban nhân dân xã hay tin cử người đến trợ giúp đồng thời nêu vào nghị quyết của Hội Đồng Nhân Dân Xã không đầy hai năm con đường nông thôn thông thoáng chạy ngang qua phần đất của Ba Thiệt trổ ra Viện lúa êm đềm. Ban đầu đường đấp đất chỉ khỏi ngập nước, mỗi năm bồi lần thêm bằng cát đá, đổ bê tong, đổ nhưa xe hai bánh chạy vù vù trong mùa mưa.
Có lần dân kinh Ngã Giữa ăn mừng suốt ba ngày đón dòng điện chạy vào xóm như mừng tết. Đèn néon lần đầu tiên thắp sáng bừng bên ruộng đồng, những cái ti vi trắng đen kẹp bình ắc quy rè rè rẹt rẹt bị vứt bỏ thay vào đó những ti vi màu thật đẹp rộn ràng trong xóm.
Có đường thông thoáng tiện lợi mọi bề muốn đi lên chợ búa, tỉnh thành tót lên xe một chút là đến nơi, cần mua những thứ cần thiết trong nhà vài mươi phút là có ngay. Có đường mở ra vùng sâu xa nhích gần đến đô thị, tiếp cận được những công trình khoa học công nghệ, văn hóa nâng đời sống của người dân chua phèn vượt lên đến bất ngờ.
Người xóm kinh Ngã Giữa thấy được việc làm của Ba Thiệt có hiệu quả, gặng hỏi:
- Nhớ lúc ở đây ruộng thất bát người ở đây sang bán đất đi xứ khác làm ăn muốn hết, đất rẻ mạt một công tầm lớn mà có một chỉ vàng, nửa chịu nửa mặt cũng bán. Anh là người bám trụ giữ đất, thấy vậy tụi tui bám theo. Giờ mới tháy được cảnh đổi đời này.
Ba Thiệt trầm ngâm:
- Chính vợ tui lúc ấy cũng đòi sang bán đất bỏ nhà ra đi. Tui cự quyết liệt và giải thích rỉ rả ngày lẫn đêm riết rồi cô ấy mới chịu nghe. Thú thật với các anh tui không tài cán gì cũng như các anh thôi. Nhưng có một điều tui quyết sống chết với với mảnh đất này là vì lời trối trăn của ba tui trước lúc hấp hối: “Thiệt à! Miếng đất kinh Ngã Giữa cha con mình giành được từ tay địa chủ nhờ có đường lối cách mạng và mồ hôi của mình đã thấm đẫm trên đất dù có gặp khó khăn đến cỡ nào cũng đừng rời xa miếng đất đó. Hơn nữa địa thế kinh Ngã Giữa rất tốt nằm lõm ở giữa bốn phía thị tứ cách không bao xa, con hãy tin lời của cha và tin cách mạng không bao giờ để cho nông dân nghèo đâu”? Chỉ có bấy nhiêu vậy thôi mà giúp tui chịu đựng được gian khổ. Nhớ lúc ấy nhà tui tám miệng ăn, hai vợ chồng sáu đứa con từng húp cháo rồn rột, tối độn khoai mì, khoai lan, đứa con gái tui ngọng nghịu mỗi khi cầm chén cháo lên nói: “Đon đăn đáo …cũng đẻ như đường”. - Con ăn cháo cũng khỏe như thường.
Thiệt thấy tóc mình ngày một thêm bạc, nhân ngày đám cúng cơm ông già, có mặt đủ các con trai gái, ông nói:
-Hôm nay cha muốn nói một số việc đời với các con. Hiện nay, xóm kinh Ngã Giữa đã có đường, đèn, mọi vật chất phục vụ con người cũng đạt mức cao, bình quân thu nhập đầu người cao hơn so với nhiều nơi khác. Chỉ trong một thời gian ngắn mà nơi ốc đảo bưng biền này gần như thị tứ. Nhưng các con nên nhớ rằng: Đây chỉ mới bước vào bên lề của sự phát triển, nếu như ta lơ là ngủ quên với những thành quả này thì một ngày gần đây đời sống của ta sẽ gặp khó khăn như cái thuở mà kinh Ngã Giữa này đã từng nếm trải. Vì xã hội đang phát triển từng giờ, từng ngày, cái nghèo của bây giờ không như cái nghèo của những năm về trước, nhưng so ra cũng đồng nghĩa như vậy thôi. Để theo kịp từng nhịp sống phát triển các con phải làm những việc như sau:
- Thằng Hai, thằng Ba đã lỡ không được học hành nhiều thì cố gắng tìm tòi học hỏi tư chất của người nông dân trong thời hội nhập, nghiên cứu cho sâu chăn nuôi trồng tỉa, hiểu sâu thêm về thổ nhưỡng vùng đất của mình. Còn các con còn lại đang học thì phải quyết tâm có bằng đại học, năm nay không được thì năm sau, năm sau… Chỉ có học, cái đầu của các con mới mở ra và tiếp cận được thời khoa học công nghệ. Có như thế các con sau này mới có cơ may thoát cảnh nghèo của thời đổi mới. Các con có nghe cha nói cái gì không?
- Dạ các con nghe!
- Vậy thì các con phải hứa quyết tâm thực hiện cho bằng được ý nguyện của cha. Cũng như ba trước đây hứa với ông các con bám giữ miếng đất này, cha đã làm được. Còn phần các con xem ra nặng nề hơn nhiệm vụ của cha ngày xưa, nhưng cha tin vào các con có đủ nghị lực.
Ông Ba Thiệt bỗng hạ giọng như than thở:
-Các con à! Đời sống của nông dân bây giờ nếu đơn độc ôm cây lúa thì không thể vững cho lắm, ta phải kèm theo chăn nuôi, trồng tỉa; cái đầu phải nhìn xa trông rộng mới thành nông dân giỏi. Ba ít học không có đủ chữ nghĩa để diễn đạt tới nơi tới chốn, mong các con tự học hỏi thêm.
Con kinh phèn khi ông Ba Thiệt đào ngang chừng năm bảy tấc, sâu cũng ngần đó chạy dọc theo miếng ruộng để rút phèn, nhiều lần nạo vét và nước xói mòn ngày một rộng thêm. Con kinh nằm vào vị thế ăn sâu vào giữa cánh đồng, hai bên là hai con rạch nên người ta thường đi tắt qua lại vào mùa nước nổi. Và nhu cầu cần thiết chuyển chở phân giống nên người dân chung quanh cùng đi con kinh này. Máy nhai, máy xới vào thời vụ vô ra không ngớt, người ta nói với nhau: “Dẫn dân cắt lúa vô đường kinh Ba Thiệt nghen!” Kinh Ba Thiệt thành danh từ lúc nào không ai hay biết! Ngoài vàm kinh người ta bắt cây cầu bê tông cao rộng cho ghe xuồng vô ra, bên trên dành cho xe chạy. Những buổi chiều giao mùa đầy sương khói ông Thiệt lần ra ngồi gần đầu cầu lặng lẽ ngó vô phía ruộng, rồi thỉnh thoảng ngó dọc theo con rạch. Người qua lại chào hỏi ông Ba, bác Ba ông già không ừ hử. Đám trẻ con cũng ra đây chạy giỡn, bất giác ông Ba như nhớ ra điều gì đó chỉ về phía bờ kinh nói: “Kìa con kinh đầy cỏ nga. Khói ai đốt đồng mà bay mù mịt. Kìa! Có con chim bói cá đậu trên cọc nhọn bây ơi!” Đám trẻ nhìn quanh quất không thấy gì hết nói với nhau: “Ông Ba như lẫn rồi bây ơi!” “Đâu mà lẫn ổng đang nhớ chuyện xưa đó!”
Nước lớn, con kinh Ba Thiệt đầy ăm ắp xuồng ghe vô ra không ngớt.
NHẬT
HỒNG
Cập
nhật ngày 30.11.2011 theo nguyên bản do Ban tổ chức cuộc thi chuyển đến
Website Sông Cửu Long