CUỘC THI TRUYỆN NGẮN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
LẦN THỨ IV
HỘI LIÊN HIỆP VĂN HỌC NGHỆ THUẬT TỈNH AN GIANG ĐĂNG CAI NĂM 2011
CÁC TÁC PHẨM VÀO CHUNG KHẢO
Cập nhật ngẫu nhiên không theo số điểm
VỀ LẠI CỘI NGUỒN
+ HÀ PHƯƠNG
1. Mấy giọt cuối cùng chậm chạp nhểu xuống hết. Pôn lấy các phích ra khỏi chiếc tác men trắng xinh xinh, dùng muỗng nhỏ khuấy đều cái dung dịch hắc quải bốc mùi thơm dịu mà chỉ hít lấy mấy hơi anh cảm thấy đầu nhẹ nhõm ra. Đêm qua anh khó ngủ do lệch múi giờ vừa bởi nỗi đắn đo.
Nhắp mấy hớp nhỏ, chép miện thưởng thức hương vị đậm đà của cà phê Sài Gòn mà anh chưa thấy có ở bao nơi từng đi qua.
Vừa cạn tách, Pôn phồng mũi hít luồng không khí ban mai mát rượi, đưa ánh mắt nhìn xuống đường. trên bao lơn lầu tư của khách sạn, anh thấy cả khung cảnh rộng và chợt nhận ra là lần sang đây hai năm trước cũng đã trọ ở khách sạn này mà vật chứng là ngôi nhà thờ Tin Lành nằm xéo bên kia lộ, rõ ràng với địa chỉ “quận X” ghi trên tấm bảng to ở cổng. Bận ấy gian nhà trông thấp nhỏ khiêm tốn mà nay được xây lại hoành tráng. Cả các khách sạn này cũng được chỉnh trang lại đẹp đẽ hơn nên lúc mới đến anh không nhận biết.
Nhìn ra hai phía, Pôn thấy rõ sự đổi thay lớn, nhiều nhà cao tầng mới mọc lên, các cửa hiệu trang hoàng lịch sự rất bắt mắt. Nói chung cảnh trí phố xá đổi thay nhanh, đẹp hơn nhiều.
Đang trầm ngâm suy nghĩ mong lung, bỗng có mấy người khách từ buồng thang máy bước ra vừa trò chuyện rồi bước tới bàn gần bên. Họ gồm một nam, hai nữ mà một cô da vàng.
Thấy có người phụ nữ Á Châu, Pôn tò mò để tai nghe họ nói chuyện, xem cố ấy thuộc quốc tịch nào. Giây lâu, nghe gọi là KaTy, anh nhíu mày giây lát rồi chợt nhớ là mình đã có lần gặp ở đâu đó.
Lục trí một hồi, anh “À” lên một tiếng nhỏ rồi đứng lên, bước tới bàn của họ, giơ tay “Hêlô” chào chung rồi nhìn thẳng vào KaTy hỏi:
- “Nếu không lầm. Tôi đã có có lần gặp chị ở cuộc họp tại rạp X, Cali phải không?”
Cô khách da vàng mím môi, nheo mắt mấy cái rồi đứng phắt lên bắt tay người hỏi mình:
- “À, phải rồi, hôm đó cái lão Ty, Tý gì đó nói về tình hình Việt Nam mà. Còn anh có phải là Pôn? Trời đất, họ nói lan man gì đâu mình chẳng hiểu gì cả”. và người đối thoại cũng tỏ đồng tình bằng mấy cái gật đầu.
2. Thì ra, cũng như mình, KaTy là gái Việt nơi “xứ lạ”, bởi họ sống ở Mỹ từ nhỏ, có quốc tịch Hoa Kỳ, nay đến Việt Nam với tư cách là đi du lịch, trong hoàn cảnh như thế, gặp được người quen thật là thích biết mấy. Họ hẹn hôm sau gặp lại để trò chuyện tay đôi, tìm hiểu hoàn cảnh của nhau.
KaTy cho hay là chẳng biết tí gì về cội nguồn của mình và sang Mỹ khi nào, bởi hồi ấy còn quá bé bỏng. Đến lúc ý thức được về cuộc sống, cô đã là con nuôi của hai vợ chồng quân nhân hiếm muộc. Họ cũng có tình thương cô nghĩa tử, cho ăn học tử tế. nhưng tới lúc trưởng thành, cha mẹ nuôi không theo ý cô mà buộc vào học ở một cơ sở đặc biệt để rồi xong khóa học được đưa về “Tổ chức nhân quyền”, quan hệ mật thiết với một số người Việt của chính quyền Sài Gòn cũ.
Còn Pôn, có lẽ hồi ấy đã lên hai, ba gì đó, có ít trí khôn để về sau dần hồi nhớ lại đôi điều về tuổi thơ của mình.
Hôm đó, mới sáng sớm, mặt trời vừa lên khỏi ngọn cây thì nghe tiếng máy bay rồi ầm ầm bom nổ, tiếng súng inh tai và lửa cháy rực đầu trên, xóm dưới,…Anh chỉ nhớ có vậy, hồn vía bay mất lúc nào. Đến hồi cơn hãi hùng dần tan, Pôn mới hay rằng mình đang ở giữa đám trẻ lóc nhóc, nhợt nhạt như mình ở giữa gian nhà xa lạ về sau mới biết là trại trẻ mồ côi, tức là không có cha, mẹ trong lúc anh biết chắc là mình có người sinh, dưỡng hẳn hoi mà!
Thế rồi với thời gian, qua những trò chơi, những buổi xem phim thần tiên mê hoặc, ru ngủ Pôn quên dần quá khứ ngắn ngủi của mình. Tuy nhiên, dù ở giữa nơi không phải là đồng quê bởi qua cổng sắt của trại là hình ảnh những căn nhà gạch cao và dập dìu xe cộ qua lại, mà thỉnh thoảng vang dội lại những tiếng nổ ầm ầm, nhắc nhở Pôn mang máng thấy lại cảnh xưa. Đôi khi còn có những tiếng nổ như sát đâu đây, rung rinh cả dải sạp ngủ.
Rồi lại đến một hiệp kinh hoàng khác. Một buổi chiều u ám. Mưa lất phất lạnh, cả trại bị lùa lên xe đưa ra máy bay đang chật nứt những hành khách nhí, xốc xếch, hẳn là từ các trại mồ côi khác đưa tới.
Cảnh nhốn nháo của đám hài nhi tạm lắng khi phi cơ nổ máy lăn bánh chạy lấy trớn trên phi đạo, để rối lúc con đại bàng sắt vụt rời mặt đất nghểnh mỏ lên trời, cả bọn lại ồ lên một tiếng giật mình. Rồi đây đó lại im hơi do mệt nhoài và tiếng máy rù rù có tác dụng như lời ru êm ái.
Nhưng chẳng bao lâu sau, nổi lên những tiếng nôn ọe hòa với những giọng khóc rấm rứt, lại có đứa la thét lên tức tưởi để nhận được lời đe nẹt của các “tiếp viên”.
Cuối cùng, chuyến bay chở mấy trăm “quý khách” tội nghiệp cũng tới đích. Các bé gái được tách ra đưa đi đâu đó, còn lũ đàn ông tương lai được chở đến ngôi nhà đặc biệt, được nuôi dưỡng ngay từ đầu theo nề nếp hẳn hoi để rồi đến thời gian các nhóc lớn lên lại được chuyển tới cơ sở khác tựa trại thiếu sinh quân.
Nơi đây, ngoài giờ học văn hóa, quân sự, lớp chiến binh tương lai còn được dạy chính trị: ca ngợi nước Mỹ về mọi mặt, chỉ trích các nước khác, phản đối chủ nghĩa xã hội mà mục tiêu quan trọng là Việt Nam, kích động sự hằn thù mà họ đổ cho tội gây nên sự mất mát, ly tán gia đình các học viên, thậm chí, láo khoét, xảo ngôn bảo là Việt Cộng đã giết cha, mẹ chúng mà nước Mỹ đang thương yêu cứu vớt.
Qua sự nhồi nhét hàng ngày, như nước chảy đá mòn, một số trại viên được xem là “đắc đạo” tiếp thu tốt những lời xuyên tạc và có tính hung hãn được chọn vào lớp biệt kích đưa về phá hoại Tổ quốc mình như những vụ đã bị bộ đội, công an ta chặn đứng, bắt giữ mà báo chí đã đưa tin.
Số hiền tánh hơn được giao cho tác tốp tay sai cũ của cuộc xâm lược còn hằn học mất nguồn lợi từ khi hòa bình lập lại, tung vào các nhóm “Đòi nhân quyền” “Đòi tự do tín ngưỡng” cho Việt Nam. Trong số ấy có Pôn và KaTy mà hôm nay tình cờ có sự hội ngộ.
3. Ngoài lương chính thức, tổ chức còn có giá biểu rất hời cho từng điệp vụ, thông tin càng tốt, tiền thưởng càng cao.
Chuyến đi hai năm trước, Pôn chỉ lượm nhặt vài chuyện vu vơ. Lần đầu đến một vùng quê với cảnh đồng vàng ươm lúa chín rì rào sóng lúa uốn lượn theo làm gió chướng, Pôn có cảm giác nhưng đứng trước bức tranh tuyệt đẹp được điểm xuyến thêm những cánh cò trắng in nổi lên mảng trời xanh. Một cảm giác lạ chợt hiện lên, tiềm thức từ từ hé mở, anh mơ hồ như thấy lại nhưng ngày ấu thơ xa xăm, êm ả với những lần có đàn trâu chậm chạp về chuồng lúc hoàng hôn có con nghé chậm bước hớt hãi kêu é ọ mấy tiếng rồi vụt chạy theo mẹ. Trời ơi! Loài vật kia còn có mẹ, mà ta đây?!
Rồi ngập ngừng bước tới đầu xóm, lòng nghe dịu lại trước tốp bà con đang suốt lúa bằng cổ máy xinh xinh với tiếng động cơ phành phạch êm tai hòa cùng tiếng cười vui của các cô thôn nữ mừng nhà mình vừa được trúng mùa.
Hôm sau lại ngang qua một xóm vườn tược sum xuê, trái trĩu cành có hàng cau đang ra hoa quyến rũ đàn ong và hương thơn dìu dịu loang tỏa tạo nên tình cảm yêu mến vùng quê với những tiếng trẻ đọc bài trong trẻo, ngọt ngào vọng ra từ ngôi trường làng xinh xinh nằm bên mép đường thôn lát xi măng phẳng phiu xuyên qua các xóm.
Qua chuyến đi sưu tầm cứ liệu, Pôn thấy ngay thành thị phát triển rõ và ở vùng nông thôn xa cuộc sống của bà con cũng yên ả, ấm no, vui vẽ, thánh thất Cao đài, chùa Phật, nhà thờ Chúa vẫn có mặt ở đó đây trang nghiêm xinh xắn và việc thờ phượng ở gia đình cũng rất bình thường, đúng lễ nghi, chẳng có già mà người dân bị gò bó.
Với cuộc sống nhân dân như thế thì còn gì mà bới móc. Pôn bắt đầu hoài nghi thực tâm của các sếp mình. Kết thúc chuyến đi, anh mang về bản báo cáo khiến bọn họ hậm hực.
4. Qua một cuộc tẩy não và những hứa hẹn ưu ái, Pôn lại được phái đi lần này để tình cờ được gặp KaTy cũng với nhiệm vụ như anh, do một tổ chức khác phái đi.
Kỳ này Pôn rất lo lắng. Lão sếp già, ngực luôn chiếc mề đai có ba gạch đỏ trên một bệt vàng nghiêm giọng căn dặn:
- “Lần này anh phải cố gắng làm cho ra chuyện đừng để mang tiếng cảm tình với Việt cộng mà khó yên lành ở chốn này. Cứ việc cố tìm cho ra những gì bất thường dù nhỏ nhặt như bất bình của dân với chánh quyền về đất đai chẳng hạn mà đưa tin về, cứ lấy ảnh thoải mái rồi bộ phận vi tính sẽ cải sửa, dặm vá thêm mà tạo ra chuyện theo ý mình với cái nền rõ ràng là hình ảnh Việt Nam là được, để ta tố cáo với quốc tế”.
Qua mấy lời hù dọa, lộ rõ thủ đoạn phù phép của sếp mà Pôn run vai ghê tởm. Nhưng biết sao, thân đã lỡ ngồi lưng cọp!
Anh lại lên đường với ước muốn bâng quơ là được sống với đồng quê yên ả mà hai năm trước mình đã có lần biết qua. Lòng cảm thấy chán ngấy cảnh sống cửa đóng then gài ở các đất nước hầu như không có tình cảm chòm xóm.
Với tâm trạng nặng nề đó, tình cờ gặp KaTy cùng hội cùng thuyền. Hôm tiếp xúc lần đầu, với câu nói của cô “Cái lão Tý, Ty gì đó nói lam man về Việt Nam, mình chẳng hiểu gì cả” Pôn tin là cô ta cũng có ý nghĩ như mình về ý đồ của sếp. Anh sẽ dè dặt bày tỏ niềm riêng mà xem thực tâm của cô ra sao.
Đúng như suy đoán của anh, KaTy cũng chỉ là con rối vô hồn, làm theo sự điều khiển của người khác chứ không có ý thức chính trị nào.
Cô cũng rất buồn lòng về nguồn cội của mình: Cha, mẹ ở đây, vì sao lại vào trại mồ côi, vì sao người ta lại đưa mình sang xứ cờ hoa?
Rốt cùng cô ta cũng hiểu, người ta tạo ra những trẻ mồ côi chẳng còn biết nguồn gốc để biến thành công cụ vô tâm thức mà điều khiển cho làm việc theo ý đồ xấu xa nham hiểm của họ. Cũng như Pôn, cô cũng đã từng bị xếp quở, đe nẹt vì không làm được gì như đòi hỏi của họ.
5. Đi dưới nắng trưa, ngang qua một gian nhà có mấy quài dừa đặt trước hiên, Pôn ghé vào hỏi mua giải khát.
Không có ly to, nước dừa được cho vào một chiếc ca nhựa bóng loáng, lớp cái trắng nổi trên mặt. Uống xong ca nước đậm đà vị ngọt, dù không đá nhưng chủ nhà đã thêm tý muối, Pôn lấy chiếc nón kết trên đầy xuống phe phẩy quạt và nhìn quanh mà thầm khen căn nhà dù khiêm tốn nhưng ngăn nắp sạch sẽ, mảnh sân nhỏ không cỏ rác với hàng rào bông lồng đèn cắt xén gọn gàng với mấy cành hoa đỏ tươi khẽ lung lay trước làn gió nhẹ.
Chủ nhân vóc người nhỏ nhắm lịch sự mời khách vào nhà nghỉ chân giây lát vì trời đang nắng gắt.
Qua ngưỡng cửa, nhìn tấm ảnh chúa Giêsu, Pôn dừng lại làm dấu thánh rồi mới bước tới ngồi vào bàn, trò chuyện.
Hỏi han qua một lúc, chủ nhà cho biết hồi chưa giải phóng, nơi đây có gian nhà nguyện nhỏ của đạo Chúa, đến lúc bị bom đánh sập, được dời ra cạnh bờ sông như ngày nay. Nói đoạn anh ta dẫn Pôn ra mé sau hè chỉ cho xem cái hố rộng do trái phá giờ thành ao trồng rau nhúc và nuôi cá.
Khi quay trở lại vô nhà bằng cửa hông, ngang qua chiếc tủ gỗ thấp có chưng bình hoa giả mày tươi như thật. Tủ đặt sát tường, trên có có tấm bằng Tổ quốc ghi công trong khung lộng kiếng và bên dưới là ảnh một phụ nữ với gương mặt hiền lành độ tuổi 30. Trên màu áo bà ba trắng nỗi rõ sợi dây chuyền với cái mề đai hình quả tim khiến Pôn dừng lại nhìn.
Lạ quá, giữa mề đai là cây thánh giá cũng chạm nổi như lằn viền quanh bìa. Những nét đặc biệt khiến Pôn kinh ngạc hỏi:
- “Ở Việt Nam, chắc là mỗi đạo hữu KiTô đều được phát cho sợi dây chuyền như vậy?”
- “Không đâu, chủ nhà đáp - đó là gia đình tự làm. Mẹ tôi hồi còn sống có đặt thợ làm cho mỗi người trong nhà một sợi dây chuyền cùng kiểu, dáng như vậy”.
Nói đoạn, anh ta kéo từ làn áo ra chiếc mề đai của mình cho khách xem. Nghe. Thấy tới đó, Pôn cảm như tim mình ngừng dập, ngồi phịch xuống ghế, mặt đờ dẫn khiến chủ nhà ngơ ngác nhìn. Giây lâu, cơn xúc động lắng xuống. Pôn cũng vạch áo trình quả tim và thánh giá của mình mà dường như linh tính khiến anh gìn giữ bấy lâu nay.
Thế rồi chủ nhà thảng thốt: Chúa ơi! rồi áp tới ôm chầm người khách khi anh ta cũng vừa đứng phắt lên.
- “Như vậy đây là em Tuất của Mùi mà. Sao em biệt tích mấy chục năm nay. Cả nhà tưởng em tan xác vì quả bom đó !”.
Hai anh em gục đầu vào vai nhau mà nức nở. Hồi lâu họ mới buông ra, dìu nhau ngồi xuống ghế, và Mùi gọi vợ con ra giới thiệu.
Chiều hôm ấy, nhiều thân nhân cật ruột được mời tới chứng kiến cuộc hội ngộ. Bà con đến chật cả nhà. Lối xóm hiếu kỳ hoặc muốc chia vui đứng đầy cả hàng hiên nhìn vào. Gia chủ cũng không quên mời vị trưởng ấp dự và chứng kiến.
Sau khi chủ nhà báo lại sự trùng phùng, gặp lại em mình qua mấy mươi năm thất lạc nhờ những chiếc mề đai kỷ vật của gia đình, viên trưởng ấp thay mặt chòm xóm đến bắt tay Pôn, chúc mừng sự hội ngộ. Tiếp theo, ông Hai, bác ruột của Mùi, Tuất (Pôn) thay mặt họ tộc kể lại lai lịch và sự cố của gia đình em mình.
6. Ông Năm, cha của Mùi và Tuất (Pôn) rất hiền lành, kính Chúa, nhân ái giúp đỡ mọi người trong và ngoài đạo. Ông giữ chân coi sóc nhà nguyện vừa vận động bà con vì Chúa, vì Tổ quốc mà ủng hộ cách mạng.
Xóm này không xa bót giặc, chỉ cách một cánh đồng. Dạo ấy, khoảng đầu 1972 chiến tranh diễn ra ác liệt, không ngày nào vắng tiếng bom nổ xa xa, phi pháo bay vèo qua xóm.
Một sáng sớm, vừa nghe tiếng máy bay thì ầm ầm mấy tiếng đinh tai, sát phạt cả xóm, nhà nguyện chung số phận. Ai nấy chưa qua cơn kinh hoàng thì hai chiếc trực thăng hông sơn ngôi sao trắng rù rù sà tới.
Bà Năm quýnh quáng kéo được thằng Mùi núp bên cây rơm rồi bạo dạn ra chổ trống nhìn theo trực thăng mà làm dấu thánh giá rồi hai tay căng rộng chiếc khăn trắng để bảo đây là xóm dân cư. Nhưng hai con đại bàng sắt cứ nhả đạn điên cuồng. Bắn xong bọn chúng đáp xuống đất rồi xông vào đốt phá.
Khi cơn tàn phá dã man chấm dứt, bà con từ mép ruộng, bờ mương ùa vào chửa cháy, hú gọi nhau, chợt thấy bà Năm gục đầu chết bên lùm cây máu còn rịn chảy.
Ông Năm nức nở ôm xác vợ đặt ở gốc xoài rồi quay đi tìm con để chỉ gặp thằng Mùi đang điếng hồn nằm gí giữa chống chà nhánh cây khôn. Còn thằng Tuất tìm khắp nơi vẫn không thấy, mọi người nghĩ là nó đã bị bom làm tan xác.
Như quả bóng bị dồn nén ắt phải nổ tung. Sau cái chết của vợ và sự mất tích của con do lũ giặt gây ra, từ chỗ an phận, chỉ góp công sức gián tiếp cho cách mạng, ông Năm không còn có thể quá thủ thường mà phải tích cực thêm lên chống loài quỉ dữ. Thế là ông tham gia vào đội du kích giữ gìn xóm thôn trước tình hình chiến sự ngày một găng hơn.
Cuối cùng ông hy sinh anh dũng trong một lần chống càn và được Nhà nước tặng bằng Tổ quốc ghi công.
Thằng bé Tuất (Pôn) hồi ấy ngoài hai tuổi, ngờ đâu bị giặc mang đi để phục vụ cho những âm mưu hiểm độc thời hậu chiến.
*
* *
Mấy hôm sau cuộc anh em hội ngộ đầy nước mắt tại quê nhà, Pôn trở lên thành phố, gặp bạn gái, kể lại hết sự tình. KaTy cũng bàng hoàng nghĩ đến hoàn cảnh mình, ắt cũng giống như Pôn, là “chiến lợi phẩm” của bọn hiếu chiến trong một cuộc hành quân nào đó. Cô chợt rưng rưng nước mắt, không biết cha mẹ là ai, còn sống hay chết?.
Qua bàn tính, đôi bạn cùng cảnh ngộ nghiệt ngã siết tay nhau quyết định đến cơ quan Nhà nước xin ở lại xứ sở một thời đau thương và yêu quí, là nguồn cội của mình.
HÀ
PHƯƠNG
Cập
nhật ngày 8.12.2011 theo nguyên bản do Ban tổ chức cuộc thi chuyển đến
Website Sông Cửu Long