|
Cứ vào lúc sẫm tối, ông Bảy
Triết lại lủi thủi đi về phía chân đồng với cây dá trên vai. Cả một
vùng cỏ năn nhạt nḥa dưới
ánh sao trời.
Xóm tôi chỉ có 9 nhà. Đó là
những người đầu tiên trở về vùng đất nhiễm phèn này sau ngày giải
phóng miền Nam. Tôi nhớ mang máng đâu chừng giữa năm 78, hay là cuối ǵ
đó. Đêm đêm, nh́n qua ô cửa nhỏ, tôi thấy thú vị hơn
những ngày tản cư ở tỉnh lỵ Kiến Ḥa,
là được chiêm ngưỡng bầy đom đóm lập ḷe
trên những cây bần dọc triền sông Ba Lai. Nhưng
rồi chán cũng nhanh, nhanh lắm. Tuổi trẻ chóng chán sau giây phút
choáng ngợp. Ban ngày, nắng rơi chan chát như đổ lửa, như muốn hút hết
nước trên đồng, như muốn nổ tung cả mắt. Xa tít tắp mới có cây mù u
đứng trơ vơ, buồn bă. Mẹ tôi nói:
“Giặc đă rải chất độc xuống đây”. “Chi vậy?” - Tôi hỏi. “Chúng tạo
vành đai trắng cho căn cứ B́nh Đức”. “Vành đai trắng là ǵ?”. Mẹ tôi
có vẻ bực ḿnh: “Lớn lên sẽ biết”. Chị tôi đế thêm: “Đồ ngu!”.
Người lớn hay hẹn cho trẻ nhỏ bốn chữ lớn lên sẽ
biết. Năm đó, tôi học lớp 7. Tuổi của lớp 7 lúc ấy ít hiểu biết hơn
tuổi của lớp 7 bây giờ. Nhưng máy bay, đạn pháo th́ tôi thấy nhiều
hơn, nhiều đến nỗi mỗi khi nghe tiếng pháo rít qua mái nhà và nổ phụp
đâu đó, tôi vẫn b́nh thản nh ư
nghe một bản nhạc êm đềm từ Radio.
Mỗi khi tan học, cơm nước xong
là tôi tót ngay đến nhà ông Bảy. Chị tôi th ́
thào, vẻ bí mật: “Ông Bảy điên, đừng sang!”. Mẹ tôi mỉm cười độ lượng:
“Điên nhưng hiền”. “Ổng chém thằng Tư có ngày” - Chị tôi gắt um lên.
“Tao có thấy ổng giết một con gà hay con vịt ǵ đâu”. Chờ cho mọi
người không để ư, tôi băng qua cánh đồng năn để đến căn cḥi vách đất
ven sông.
Ông Bảy không hề điên trong mắt tôi. Ông chỉ hơi
ngớ ngẩn thôi. Mỗi lúc vào mùa khô, nắng gắt, ông thường lang thang
trên đường, miệng lảm nhảm những câu không đầu không cuối, rồi cười.
Tay ông cầm ngọn cỏ tranh, phất qua phất lại giống như một nhạc
trưởng. Chỉ có vậy, ông không hại ai, không chửi ai. Ngay cả con chó
dữ nhà bà Sáu Ḷng Tong thấy ông cũng biết vẫy đuôi mừng và ông cũng
vui vẻ chào lại nó. Mùa mưa, ông ru rú ở nhà. Sẫm tối th́ vác dá đi,
đi đâu cũng chẳng ai thèm ngó ngàng bởi mọi người c̣n mải lo kiếm cái
ăn trên vùng đất phèn chua, cằn cỗi.
Ông Bảy không có tên. Ngay cả cái thứ Bảy cũng do
bà bán xôi ở chợ xă đặt cho. “Hai, ba, bốn, năm, sáu, bảy... anh thích
thứ nào?” - Bà hỏi lớn khi cho ông gói xôi. Ông cười hề hề: “Bảy”. Mọi
người liền nhao nhao: “Anh Bảy Bắc kỳ! Anh Bảy Bắc kỳ!”. Hai Tập Kết
giữ chân thư kư ủy ban, ngồi uống cà phê gần đó rầy: “Chọc tầm bậy tầm
bạ. Nói vậy người ta sẽ cho quê ḿnh phân biệt Bắc - Nam”. Ai đó đỡ
lời: “Vậy th́ gọi là Bảy Triết Gia Đường Phố đi!”. “Là sao?” - Có
tiếng người thắc mắc. “Tôi thấy ở tỉnh lỵ người ta gọi mấy người bị
“chạm dây” đi lang thang như vậy”. “Nghe cũng hay!” - Hai Tập Kết vỗ
tay tán thưởng. Và cái tên Bảy Triết Gia Đường Phố đeo theo ông Bảy từ
đó. Được vài tháng, h́nh nh ư
gọi một cái tên dài cũng mệt cái miệng cho nên cuối cùng chỉ gọi tắt
là Bảy Triết.
Ông Bảy Triết sống trong một
căn nhà ven sông, cạnh cây trâm có trái chín như màu mực. Nói là nhà
chứ thực ra nó nhỏ như tổ chim, mái lá, vách đất, có những chỗ bị nước
mưa làm bong ra, l ̣i loe
hoe mấy cọng rơm. Ông thường bận chiếc áo bộ đội đă bạc màu, đầu chít
khăn rằn, dưới th́ cái quần đùi, phơi đôi chân vàng ệch v́ phèn, vàng
như nắng của buổi hoàng
hôn.
Nước phèn trên cánh đồng năn
trong vắt, nh ́n rơ đàn cá
bơi lội tung tăng. Một vài
con cá bị chất độc làm cho biến dạng, chỉ có nửa thân trên mà vẫn biết
đớp móng, vẫn biết đón mặt trời lên. Mỗi khi bắt được những con cá ấy
đem về cho ông, chẳng hiểu sao ông lại giận tôi đúng một tuần, không
thèm giáp mặt, cũng không nở lấy một nụ cười.
“Thằng T ư
theo chú Bảy vớt cá lia thia suốt, bỏ cả học hành, người
đen ngợm, lớn lên chỉ có nước chăn trâu” - Chị tôi càu nhàu.
“Đang Hè mà” - Mẹ tôi nhỏ nhẻ
- “Vả lại cũng cho nó quen với đồng đất một chút. Cha mày không c ̣n.
Hai anh mày th́ nằm xuống ở Ba Chúc trong lần đánh tụi Pôn - Pốt. Cũng
phải có người phụ việc ruộng nương chứ. Tao c̣n có một tay th́ làm
cũng cầm chừng thôi”.
Mủi ḷng, chị tôi ôm mẹ, khóc ṛng. Xin nói thêm,
cha tôi mất hồi Tết Mậu Thân, lúc ông dẫn một cánh quân tiến vào thị
xă. Mẹ tôi cũng phải cưa cánh tay v́ bị thương sau cái đêm kinh hoàng
đó. Thỉnh thoảng, gia đ́nh tôi nhờ ông Bảy sang phụ cuốc đất để trồng
ḿ, trồng khóm. Đổi lại ông chỉ lấy số gạo vừa đủ ăn, có cho thêm nải
chuối ông cũng dứt khoát không nhận. Không nhận với nụ c ười
muôn thuở.
Có một lần theo ông đi hái
bần, tôi đánh bạo hỏi: “Quê chú Bảy ở đâu ta?”. Ông chợt dừng lại, nh ́n
tôi với ánh mắt xa xăm; rồi lẳng lặng, ông leo lên đọt cây, liệng
xuống cho tôi những trái bần mơn mởn. “Coi chừng ong!” - Tôi la lên.
Chỉ nghe ùm một tiếng. Lúc lâu sau mới thấy ông từ dưới
sông trồi lên, mỉm cười. Cười trên mặt nước Ba Lai đục ngầu. Tôi trở
nên thích ông từ cái mỉm cười hồn nhiên đó.
Mùa mưa đến, đến bằng màn
trắng đục phía Tây Nam. Nó đi chậm r ăi
qua vườn dừa, qua cánh đồng năn như một cô gái làm duyên, đỏng đảnh.
Thế rồi nó đổ ụp xuống, rào rào trên mái lá lúc nào tôi cũng chẳng
hay. Cả vùng lịm đi trong mưa và tôi có cảm giác như ḿnh đang trôi
vào một cơi nào đó thật mơ hồ.
Đằng sau lưng, đột nhiên ông Bảy
ư ử hát:
“Trời mưa lâm râm
Cây trâm có trái
Con gái có chồng
Đàn ông có vợ
Đàn bà có con
Bỏ vô lon
Nhảy ton ton”
Hát xong, ông nhảy cẫng lên
như một đứa trẻ. Tôi ph ́
cười. Lần đầu tiên tôi nghe ông hát. Chẳng lẽ mưa xuống đă làm dịu đi
sự ngớ ngẩn của ông? Thấy ông có vẻ vui, tôi hỏi: “Chú có con không?”.
Ông lắc đầu. Rồi ông nói cái ǵ đó về làng quê. Tôi đoán là quê ông ở
chỗ có sông, có núi, có những người đàn bà ăn mặc sặc sỡ mỗi khi đến
phiên chợ. Vậy thôi. Tôi chưa bao giờ thấy núi nên chỉ ừ hử cho qua.
Đột ngột, ông nói: “Vơ Ṭng qua Cảnh Dương Cang một ḿnh”. “Vơ Ṭng
nào?”. “Chết rồi! Chết hết rồi! 108 người”.
Và ông ôm mặt khóc nức nở. Tôi chỉ biết an ủi ông bằng cách chùi vệt
bùn khô bám trên vai áo bạc màu của ông.
“V ơ
Ṭng là ai hở mẹ?” - Tôi đem điều thắc mắc về hỏi mẹ. Bà đáp: “Một
nhân vật trong Thủy Hử”. “Thủy Hử là cái ǵ?”. “Là truyện”. Ngày ấy
chữ truyện đối với tôi giống như một cái ǵ thiêng liêng, giống như
Tiên, như Phật vậy. Th́ ra ông Bảy cũng là người học cao, hiểu rộng.
Chỉ phiền cái là ông điên, điên tự bao giờ không ai rơ. Ngay cái ngày
ông đến cánh đồng hoang này để định cư cũng không ai rơ. Chỉ nghe đồn
phong phanh là ông bị chế độ của ông Thiệu giam ở Phú Quốc. Xóm 9 nhà
chấp nhận ông như chấp nhận
một đồng loại.
Đường đất sau một đêm mưa nhớp
nháp s ́nh lầy. Đồng cỏ như
hiu quạnh hẳn đi. Vẳng từ đâu đó, tiếng con chim cu gù, man mác.
Tôi với lấy cái nơm. Chị tôi liền cất tiếng: “Lại
đi chơi nữa!”. “Đi kiếm đồ ăn mà!” - Vừa đáp tôi vừa lao đi sợ mẹ ngăn
cản v́ ngại tôi gặp rắn. Tôi tạt qua nhà ông Bảy để mượn cái hom giỏ.
Bên trong vẳng ra tiếng rên của ng ười
bệnh.
Ông nằm đó, mặt tái xanh. Cái
dá dựng một bên c ̣n dính
đầy bùn. Nghe tiếng động, ông hé mắt nh́n vu vơ, mệt mỏi, hơi thở kḥ
khè như người đang lên cơn hen suyễn. Tôi biết ông không c̣n đủ sức
mỉm cười với tôi là có chuyện lớn. Tôi lao ra sân, hét lên cầu cứu.
Lập tức, mọi người ở xóm 9 nhà đổ xô tới. “Sao vậy?” - Họ hỏi rối rít
khiến tôi líu cả lưỡi. Họ ùa vào nhà. Người xoa bóp dấm dọc theo sống
lưng ông. Người cạy miệng đổ nước gừng vào. Chưa đầy 15 phút sau, ông
đă ngồi dậy với nụ cười ngơ ngác, có lẽ ông tự hỏi v́ sao nhà ḿnh hôm
nay có quá nhiều người như vậy. Bà Sáu Ḷng Tong nói ông bị cảm lạnh,
chắc là do dầm mưa. Ông cúi đầu lí nhí: “Cám ơn!” Lần đầu được một
người điên nói lời cám ơn, ai nấy đều hể hả và rơm rớm nước mắt v́ cảm
động.
“Tối nào chú cũng đi đào đất để làm chi vậy?” -
Không nén nổi ṭ ṃ, tôi hỏi. “Cám ơn!” - Ông đáp khẽ khàng. “Con
không cần chú nói cám ơn”. Ông lại nh́n tôi với ánh mắt ngớ ngẩn.
Giận, tôi bỏ đi về phía chân đồng xem ông đă làm tṛ ǵ trong đêm. Th́
ra, đó chỉ là những cái hố con con nhưng đă bị lấp lại. “Đúng là
điên!” - Tôi ph́ cười. Ông ấy cứ đào và đấp. Tôi đếm cả thảy có 8 hố,
nằm chéo góc theo h́nh chữ Z. Tôi lắc đầu, tự hỏi không biết ông đang
chơi tṛ ǵ.
Biết chuyện, mẹ tôi trừng mắt: “Con đừng lẩn quẩn
đến chỗ đó!”. “Có sao đâu?”. “Chỗ đó tao nghe bà Sáu nói hồi trước
đụng trận nhiều lắm”. “Ăn thua ǵ tới ḿnh?”. “Người chết vô số. Bà
Sáu c̣n kể đêm đêm nghe văng vẳng tiếng khóc than ở đó. Ma quỷ nó biết
mặt con, biết tên con, nó bắt bỏ vào giữa bụi tre cho ăn đất sét”. Tôi
rùng ḿnh, hoảng sợ. Thế là chiều chiều tôi chỉ c̣n biết ngồi nh́n
những thân dừa ốm quắt queo, lỗ chỗ vết đạn đang ngả nghiêng theo gió,
nơi mà ngày trước bà Sáu Ḷng Tong nói là có một tiểu đoàn lính Bắc
Việt đụng với lính Sư đoàn 7 của ông Thiệu. Thế nào là Bắc Việt, thế
nào là Sư đoàn 7, tôi nghe và để bụng chứ tôi không dám hỏi tới v́ ngỡ
hỏi tới th́ ma quỷ sẽ bắt ḿnh thật. Nửa tháng trời tôi chẳng hề bén
mảng đến cánh đồng năn để bắt cá lia thia và lượm trứng cút hoang. Chị
tôi c̣n hù thêm: “Tuần rồi ở xóm Bờ Tre, anh Hai Chi v ướng
phải M.79, cưa đôi chân đến háng”.
Một hôm, mẹ tôi hỏi: “Sang
thăm thấy chú Bảy đỡ chưa, Liên?”. Chị tôi đáp: “Ổng như con trâu
nước”. Rồi chị nói thêm: “Con nghe ổng hát. Cái g ́
mà trời mưa lâm râm; cây
trâm có trái...”. “Em biết rồi” - Tôi xen vào và đọc hết một mạch. Chị
tôi cười khùng khục: “Thằng này cũng bày đặt thuộc thơ”.
Ba tháng trôi qua thật nhanh
nhưng k ư ức về những ngày
ấy không bao giờ lạt phai trong tôi. Lên lớp 8, chuyển trường mới, đi
về khoảng 7 cây số. Thời gian tôi gặp ông Bảy Triết Gia Đường Phố thưa
thớt dần. Thỉnh thoảng, đi ngược chiều nhau trên con đường làng, ông
chỉ nh́n tôi, rồi cười và lại cặm cụi bước thấp bước cao, tay cầm cọng
cỏ tranh phất qua phất lại như một nhạc trưởng lành nghề. Cũng vẫn cái
đầu trần chít khăn rằn, cũng cái quần đùi nhăn nhúm và đôi chân mốc
thếch v́ phèn, như thể nắng, gió, mưa của vùng đồng bằng này không hề
hấn ǵ đến ông.
Năm sau, nhà nước hạn chế dùng dầu lửa. Vả lại cũng
chẳng ai đủ tiền để mua v́ trước mắt phải chạy gạo hàng bữa. Riết rồi
gạo cũng đâm ra khan hiếm bởi nạn rầy nâu. Không riêng ǵ xă tôi, tỉnh
tôi mà cả đồng bằng sông Cửu Long đều như vậy. Người ta ào ào trồng
cao lương. Ngày ăn cao lương trộn khoai ḿ, đêm thắp ngọn đèn mù u
nhợt nhạt như xác người chết. Ấy thế mà mọi người đều không ca thán,
mọi người vẫn đều đặn đến chợ mỗi sáng, đến để ngắm mấy cái cửa hàng
lương thực trống huơ trống hoác, mạng nhện giăng đầy, rồi về. H́nh nh ư
tôi nghe nói có chiến tranh nổ ra ở đâu đó.
Một đêm cuối tháng Mười, khi
những lát mù u cuối cùng đ ă
cháy gần hết, mẹ tôi bảo: “Sang nhà chú Bảy xin đỡ vài trái, Tư!”.
“Con sợ ma!”. “Ma cỏ ǵ. Đây đến đó chỉ có một khoảng ruộng. Trong nhà
chỉ có mày là đàn ông”. Tự ái, cực chẳng đă tôi phải đi, vừa đi vừa
bắt ấn tư. Đêm hắt xuống đồng năn những v́ sao lạc loài.
“Có nhà không, chú Bảy?” - Tôi hỏi lớn khi vừa bước
vào nhà. Đập vào mắt tôi là cảnh ông Bảy đang lúi húi mở dây cột bao,
thứ bao đựng lúa. Cạnh đó là mấy cây nhang cháy lập ḷe. Thứ khói
nhang ḥa với khói mù u khiến tôi nôn nao cả ruột gan. “Làm ǵ đó, chú
Bảy?”. Ông quay lại nh́n tôi, ánh mắt đỏ hoe: “Cậu về đó hở Kiên?”.
“Kiên nào? Con đây! Con là thằng Tư con Hai Sa đây!”. “Tớ có lỗi với
các cậu!” . Ông khóc nấc lên, cả thân thể như muốn đổ ụp xuống. “Tư
đây!” - Tôi vội chồm tới níu ông lại. “Tụi mày chịu khó ngủ chung
nghe. Giải phóng rồi tao sẽ về t́m” - Ông nói với giọng m ơ
màng. Rồi ông hát khe khẽ. Tôi chợt thấy ái ngại cho một ông già đang
lên cơn lú lẫn.
“Để con phụ cho!” - Tôi hăm hở
cầm dây đèn mù u và vạch rộng miệng bao. Bên trong, những mẩu xương và
mấy cái xương sọ đen xỉn với hai hố mắt nh ́n
tôi đăm đắm.
Bến Tre, 1997
(trích trong tập
truyện "Tiếng chuông trôi trên sông" của Vũ Hồng - Tặng thưởng Văn học
của Hội nhà văn Việt Nam năm 1999) |